Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện người - chuyện ta. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện người - chuyện ta. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 11, 2017

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRỞ THÀNH MỘT ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Kinh tế t­­ư nhân (KTTN), là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư­­ nhân về t­­ư liệu sản xuất. KTTN tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng xét về quy mô và trình độ phát triển của lực l­­ượng sản xuất như­­: Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, tổ hợp sản xuất, doanh nghiệp t­­ư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Căn cứ vào tính chất sở hữu, KTTN được chia thành hai dạng: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế t­­ư bản tư nhân. Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm phát triển và coi trọng các thành phần kinh tế, trong đó có KTTN, bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.

         Để phát huy hơn nữa vai trò của KTTN, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW “về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”. Nghị quyết là bước tiếp nối và phát triển của Nghị quyết số 14-NQ-TW ngày 18/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa IX về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN. Việc ra đời Nghị quyết thể hiện đánh giá đúng của Đảng đối với vai trò và tầm quan trọng của khu vực KTTN trong phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) đất nước giai đoạn tới, đặc biệt là đối với việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện ba đột phá chiến lược; Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực hội nhập quốc tế.
NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT
Qua 15 năm thực hiện, Nghị quyết số 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN”, đã góp phần quan trọng thúc đẩy KTTN phát triển nhanh và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, đồng thời góp phần hình thành, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Một là, nhận thức về vị trí, vai trò của KTTN đã có những bước tiến quan trọng, ngày càng tích cực hơn. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện. Quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức được thể chế hóa và được pháp luật bảo vệ. Phương thức quản lý của Nhà nước đối với KTTN được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường.
Hai là, KTTN đã phát triển trên nhiều phương diện; hiệu quả, sức cạnh tranh dần được nâng lên; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn KTTN có qui mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Trong những năm qua, vai trò, vị trí của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ngày càng được nhận thức rõ hơn và đánh giá đúng hơn. KTTN ngày càng đóng góp lớn hơn trong huy động các nguồn lực xã hội cho sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội và tăng cường quốc phòng, an ninh. “KTTN liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng 39 - 40% GDP thu hút khoảng 85% lao động trong nền kinh tế”[1]; “tỷ trọng nguồn vốn của các doanh nghiệp tư nhân trong cơ cấu tổng lượng vốn đầu tư xã hội tăng qua các năm: năm 2002 chiếm 25,3%, năm 2010 chiếm 36,1%, năm 2015 chiếm 38,7%”[2].
Ba là, đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đạo đức, văn hóa kinh doanh của doanh nhân dần được nâng lên.
Bốn là, mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng trong khu vực KTTN được cấp ủy đảng quan tâm đổi mới, hoàn thiện; đảng viên được làm kinh tế tư nhân và chủ doanh nghiệp của tư nhân được thí điểm kết nạp vào đảng.
Năm là, hoạt động giám sát, phản biện chính sách, vai trò tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động của của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp được quan tâm đổi mới, nâng cao hiệu quả.
HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN
Bên cạnh sự phát triển nhanh và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, KTTN còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém.
Một là, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách khuyến khích KTTN phát triển còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ.
Các quy định pháp luật và các cơ chế, chính sách về tài chính, tín dụng, thuế, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, về lao động, tiền lương, giáo dục đào tạo, về dịch vụ công, về khoa học và công nghệ, về thương mại và hội nhập quốc tế, …để khuyến khích KTTN phát triển còn chưa đồng bộ, bất cập, thiếu linh hoạt và chưa được thực hiện nghiêm. Môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao, thiếu sự an toàn và tính minh bạch. Kinh tế vĩ mô chưa ổn định vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định. Nguy cơ lạm phát, tỷ giá, lãi suất cao trở lại, thiếu ổn định còn lớn. Bội chi ngân sách nhà nước và nợ công cao; đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro an toàn hệ thống tài chính còn cao. Trật tự và kỷ luật thị trường còn nhiều yếu kém; vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh diễn ra khá phổ biến trên thị trường. Sự minh bạch, công khai trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý của Nhà nước còn nhiều hạn chế.
Hai là, KTTN chưa đáp ứng được vai trò là một động lực.
Tốc độ tăng trưởng GDP của KTTN có xu hướng giảm trong những năm gần đây. “Giai đoạn 2003-2010: 11,93 %/năm; giai đoạn 2011-2015: 7,54%/năm”[3]. KTTN có quy mô nhỏ, chủ yếu vẫn là kinh tế hộ kinh doanh. Số lượng các hộ gia đình, cá thể chiếm khoảng 95% tổng số chủ thể KTTN”[4].
Trình độ công nghệ, trình độ quản trị, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh thấp. Phần lớn doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu và phụ thuộc vào nhập khẩu “số lao động có kỹ thuật chuyên môn chỉ khoảng 7%; đầu tư cho đổi mới thiết bị, công nghệ chiếm 3% doanh thu”[5]. Quản trị của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh cá thể trong KTTN còn rất yếu, hệ thống kế toán, quản lý tài chính chưa thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật, hoạt động thiếu minh bạch.
KTTN có cơ cấu ngành nghề còn bất hợp lý, thiếu liên kết với nhau và với các thành phần kinh tế khác khoảng 81% cho các hoạt động thương mại và dịch vụ nhỏ, lẻ phục vụ người tiêu dùng; phần còn lại khoảng 19% hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Khả năng tham gia chuỗi giá trị sản xuất trong nước, khu vực và toàn cầu thấp. Tỷ lệ doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động cao, “bình quân giai đoạn 2007-2015 là 45% tổng số doanh nghiệp còn hoạt động trong nền kinh tế. Năm 2016 có 73.130 doanh nghiệp chấm dứt hoạt động và 20.345 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, trong khi số doanh nghiệp thành lập mới là 110.100 doanh nghiệp”[6].
Ba là, vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong KTTN còn khá phổ biến. Nhiều doanh nghiệp có số vốn ít nhưng đăng ký nhiều ngành nghề kinh doanh, không xác định rõ mục tiêu sản xuất kinh doanh, xây dựng dự án đầu tư thiếu tính khả thi. Một số doanh nghiệp của tư nhân được lập ra để tiến hành các hoạt động bất hợp pháp như mua bán hóa đơn khống, buôn lậu,... Tình trạng gian lận thương mại, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu xảy ra phổ biến.
Bốn là, nhiều quy định của pháp luật về KTTN chưa được thực hiện nghiêm; nhất là lĩnh vực đầu tư, đất đai, tín dụng, thuế và hải quan. Môi trường đầu tư kinh doanh, khởi nghiệp còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao và thiếu minh bạch. Quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản, tiếp cận các cơ hội kinh doanh, nguồn lực xã hội chưa thực sự bình đẳng giữa KTTN và các thành phần kinh tế khác; chi phí trung gian, không chính thức còn nhiều; vẫn còn biểu hiện của cơ chế xin - cho.
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là: Chưa có sự thống nhất cao về lý luận và nhận thức đối với phát triển KTTN; thể chế về phát triển doanh nghiệp, doanh nhân còn nhiều bất cập. Chưa tạo được bước đột phá trong đổi mới, hoàn thiện thể chế KTTN và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTN đạt hiệu quả chưa cao và còn chưa nghiêm túc. Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại của KTTN thấp.
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
Để phát triển kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết đã xác định 5 nhiệm vụ giải pháp chủ yếu.
Một là, thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng, hành động trong triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển KTTN. Đây là nhiệm vụ giải pháp hàng đầu nhằm tạo sự đồng thuận cao về nhận thức, tư tưởng, hành động trong toàn xã hội, tạo điều kiện cho KTTN phát triển.
Trong đó, cần tập trung nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội về khuyến khích, tạo mọi điều kiện phát triển KTTN, về chức năng của Nhà nước và thị trường trong nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập.
Tổng kết một số mô hình doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay để có cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo. Phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn của KTTN trong phát triển KT-XH phải đi đôi với khắc phục triệt để những mặt trái phát sinh trong quá trình phát triển KTTN.
Phòng, chống có hiệu quả các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương, cơ chế, chính sách đối với KTTN.
Hai là, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển KTTN. Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN” việc tạo lập “môi trường đầu tư, kinh doanh, khởi nghiệp còn nhiều hạn chế”[7]. Vì vậy, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để KTTN phát triển có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong đó, cần triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý, đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và thực hiện ba đột phá chiến lược. Phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, hạn chế sự gia tăng nợ công, lấn át đầu tư của khu vực tư nhân.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư tư nhân và bảo đảm hoạt động của KTTN theo cơ chế thị trường: Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền và nghĩa vụ dân sự của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. Mọi biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển KTTN phải phù hợp với nguyên tắc thị trường và thúc đẩy tính tự chủ, cạnh tranh của KTTN, không biến các cơ chế, chính sách hỗ trợ thành bao cấp, phục vụ “nhóm lợi ích” dưới mọi hình thức.
Mở rộng khả năng tham gia thị trường và thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng. Rà soát, xoá bỏ các cơ chế, chính sách tạo ra bất bình đẳng giữa KTTN và các thành phần kinh tế khác, giữa các chủ thể của KTTN, nhất là trong cạnh tranh và tiếp cận nguồn lực xã hội, các yếu tố sản xuất, cơ hội kinh doanh, tham gia thị trường, mà trọng tâm là đất đai, vốn, nguồn lực của Nhà nước. Tăng cường tính minh bạch đối với độc quyền nhà nước, độc quyền doanh nghiệp và kiểm soát độc quyền kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Xóa bỏ các chính sách hành chính can thiệp trực tiếp vào thị trường và sản xuất kinh doanh, nhất là giá cả hàng hóa, dịch vụ.
Tạo điều kiện cho KTTN tham gia vào quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thông qua góp vốn, mua cổ phần để hình thành các tổ chức sản xuất kinh doanh hỗn hợp, có năng lực tài chính, quy mô hoạt động lớn, công nghệ và quản trị hiện đại, nhất là sớm phát triển các tập đoàn KTTN đa sở hữu có khả năng cạnh tranh ở thị trường trong nước và quốc tế.
Phát triển nhanh hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại nhằm hỗ trợ sản xuất kinh doanh và tạo điều kiện thuận lợi cho KTTN tiếp cận, sử dụng thuận lợi, bình đẳng với chi phí hợp lý, bảo đảm tính công khai, minh bạch.
Khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về đất đai, quản lý tài nguyên và môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho KTTN tiếp cận đất đai, các nguồn tài nguyên một cách minh bạch, bình đẳng theo cơ chế thị trường, phục vụ sản xuất kinh doanh
Ba là, hỗ trợ KTTN đổi mới sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.
Khuyến khích KTTN đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ tiên tiến, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo nhằm nâng cao năng suất lao động.
Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực với hệ thống chính sách, giải pháp đồng bộ. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chú trọng xây dựng, nâng cao văn hóa doanh nghiệp và đạo đức doanh nhân.
Khuyến khích, động viên và lan tỏa tinh thần, ý chí khởi nghiệp, kinh doanh và đổi mới, sáng tạo trong toàn xã hội, nhất là cộng đồng doanh nghiệp; xây dựng thương hiệu và chữ tín trong kinh doanh...
Bốn là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong đó, tập trung xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt, tư tưởng chính trị vững vàng, trách nhiệm cao và liêm chính.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp đối với việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với KTTN nhưng phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo gánh nặng tâm lý đối với người dân và doanh nghiệp. Phòng, chống, xoá bỏ mọi biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ “lợi ích nhóm” trong xây dựng và thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách đối với KTTN.
Nâng cao năng lực tổ chức quản lý nhà nước về KTTN. Đẩy mạnh cải cách hành chính mà trọng tâm là tạo bước đột phá trong cải cách thủ tục hành chính. Đơn giản hoá, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành chính, nhất là về thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, cấp phép, thuế, xuất khẩu, nhập khẩu, giải quyết tranh chấp, tố tụng, xét xử, thi hành án dân sự, kinh tế, phá sản.
Hoàn thiện và công khai, minh bạch hệ thống thông tin KT-XH, cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển, cơ chế, chính sách quản lý để tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận khai thác và sử dụng.
Năm là, đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đối với KTTN
Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng trong khu vực KTTN phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Có giải pháp thực hiện chủ trương phát triển đảng trong khu vực KTTN. Coi trọng công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương của Đảng về phát triển KTTN; bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng trong khu vực KTTN.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong phát triển KTTN. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, làm tốt vai trò tổ chức đại diện, tích cực phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh doanh, đào tạo, kỹ thuật và tư vấn cho các hội viên./.
                                                                                                              - NVK -

[1]
 Đảng Cộng sản Việt nam (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 89.
[2] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 36.
[3] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 57.
[4] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 57.
[5] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 60.
[6] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 65.

[7] Đảng Cộng sản Việt nam (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 92.

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

KHÓC MƯỚN!

          Hôm qua (23/11/2017), cây bút Đỗ Hồng có bài viết “Chiến sĩ văn hóa” trên Blogger Danlambao. Trong bài viết này tác giả đã chủ quan, càn dở khi cho rằng: Xã hội Việt Nam dưới thời cộng sản sau năm 1975 không còn có những quyền tự do căn bản nhất của con người và văn hóa thì nghèo nàn hay không muốn nói là suy đồi. Tuy chưa đến đỗi vô văn hóa, nhưng xã hội này dường như đã trở thành một vùng rừng rú suốt hơn 42 năm qua?
          Vậy thưa tác giả Đỗ Hồng, cái mà ông ca ngợi là “văn hóa” hay “văn hóa cao” theo tiêu chí cá nhân ông của thời ngụy quyền Việt Nam cộng hòa ấy nó giàu bản sắc và giá trị đến cỡ nào? Về vật chất: đó là một nền văn hóa thực dụng, chạy theo văn hóa phương Tây suy đồi, biết bao cô gái từ thôn quê đến thành thị làm cái nghề nhơ nhớp bán thân nuôi mình và khi miền Nam giải phóng đã để lại hậu quả 50.000 đứa trẻ con lai có thể được coi là thành tựu giao lưu văn hóa Đông  - Tây chăng?

          Quân đội ngụy, cảnh sát ngụy dùng các phương tiện chuyên biệt để buôn bán ma túy, đầu độc giới trẻ tràn lan - ấy là thành tựu văn hóa sao? 
Còn về văn hóa tinh thần – dù là những người có hiểu biết nhưng anh em nhà họ Ngô vì cổ súy cho Đạo Thiên chúa mà đàn áp các tăng ni, phật tử để đến nỗi các nhà sư phải tự thiêu thì có thể ca ngợi thế nào nhỉ?
          Cái sự phồn vinh của xã hội miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là nhờ hoàn toàn vào viện trợ của nước ngoài – đặc biệt là Mỹ thì bên trong sự hào nhoáng ấy có còn hồn cốt dân tộc chúng ta không thưa ông Đỗ Hồng?
          Dân tộc Việt Nam đã tốn bao xương máu để đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối sau cái ngày 30/4 lịch sử ấy – và cái ngày ấy cả thế giới xuống đường vẫy cờ hoa chúc mừng, ngưỡng mộ dân tộc Việt Nam có độc lập, tự do toàn vẹn – sao ông lại có thể phủ nhận cái gọi là chân lý nhỉ?
          Từ khi đất nước thống nhất cho dến nay, điều hiển nhiên là văn hóa được chăm lo, quan tâm và phục hưng, phát triển. Hàng loạt các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới: Từ vịnh Hạ Long đến Cung đình Huế, tháp Chàm Mỹ Sơn, phố cổ Hội An đến tục thờ cúng Hùng Vương, hát Xoan Phú Thọ…các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn, các giá trị văn hóa hiện đại được chọn lọc, bổ xung, thâu hóa dưới con mắt của ông hóa ra lại là sự suy đồi! lạ, lạ quá, lạ cho cái cách suy nghĩ của ông, cái cách xuyên tạc của ông và vì thế không khó để nhận ra cái động cơ khóc mướn của ông. Đọc xong bài viết tôi cứ nghĩ sao lại là Đỗ Hồng được nhỉ? Tên ông, hay bút danh của ông phải là Đỗ Đen mới đúng – cho dù nói thế cũng oan gia cho họ nhà đỗ đen thực sự có ích cho con người. Đỗ Hồng như ông chỉ như là một loại cỏ dại lạc loài trên thế gian này mà thôi! 
           NHN


Thứ Năm, 31 tháng 8, 2017

Trí tuệ và sự sáng tạo tuyệt vời của Bác Hồ thể hiện trong “Tuyên ngôn độc lập”


Mở đầu Tuyên ngôn Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào cả nước. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu nói này có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử đã được các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu và làm rõ. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn có người khi đọc văn bản lịch sử này đã đặt ra câu hỏi: Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của mình bằng những câu trích dẫn từ hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp? Ngay cả một số nhà sử học Mỹ cũng luôn nói rằng, Hồ Chí Minh đã mở đầu bản “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam bằng cách trích dẫn: “Tuyên ngôn” của Mỹ. Điều này có phần nào không đúng và chưa đủ. Bởi lẽ, Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới như UNESCO đã tôn vinh. Người nhắc đến hai văn kiện lịch sử ấy với lòng trân trọng đặc biệt của một trí tuệ lớn đối với sự phát triển của văn minh nhân loại mà Cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 mang lại. Đây là những thành quả văn hóa của nhân loại, là dấu mốc lớn của lịch sử loài người. Đó là nền tảng và là tiền đề để Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, chính cuộc Cách mạng mà dân tộc Việt Nam đã giành được vào mùa Thu năm 1945 là bước đi tiếp, đồng thời cũng là một cái cột mốc cho sự phát triển của lịch sử giải phóng con người thuộc các dân tộc bị áp bức, bóc lột. Vì đó là mẫu hình đầu tiên và cũng là ngọn cờ đầu của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhỏ, yếu, thoát khỏi ách đô hộ, thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới mà cách mạng Việt Nam do Đảng và Bác lãnh đạo đã giương cao.
Đi sâu nghiên cứu Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, chúng ta thấy: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay đổi một ý so với bản Tuyên ngôn của Th. Giép-phơ-sơn (Th. Jefferson). Trong Tuyên ngôn của nước Mỹ có câu “chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng, mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh suy rộng ra rằng: “Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Đây quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt như nguyên Thượng nghị sĩ Mác Go-vân (Mc.Govern) đã đưa ra nhận xét. Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Mỹ, bà Lây-đi Bo-tơn (Lady Borton) còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Th. Giép-phơ-sơn được viết vào thế kỷ XVIII, thời đó, từ này chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản). Nhưng từ “all men” này đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành: “Tất cả mọi người”. Như vậy có thể thấy, với vốn tiếng Anh hoàn hảo cùng với thiên tài của trí tuệ, Bác Hồ đã dịch và trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của Mỹ nhưng có sự điều chỉnh và phát triển để thể hiện quan điểm riêng của mình và trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp về lý luận đem lại những tiến bộ và phù hợp với sự phát triển của nhân loại.
Cần phải hiểu thêm rằng: Bản tuyên ngôn của nước Mỹ ra đời năm 1776, nhưng mãi đến năm 1870, những người đàn ông da màu mới có quyền đi bỏ phiếu. Với phụ nữ, sự thừa nhận về sự bình đẳng chính trị còn muộn hơn nữa. Đó là năm 1923. Như vậy, đàn ông da đen có quyền được đi bầu sau 95 năm và phải mất thêm 50 năm sau nữa, phụ nữ Mỹ mới được đi bỏ phiếu. Còn tại Việt Nam, trước năm 1945, nước ta vẫn là xã hội nặng về ý thức Nho giáo “trọng nam, khinh nữ”. Vì vậy, với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho nhà nước mới đã tuyên bố độc lập tự do và bình đẳng cho toàn thể mọi người dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, giới tính, tôn giáo… Đây là điều thể hiện sự tiến bộ vượt trội của Tuyên ngôn độc lập, so với hai bản Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo.
Nội dung của Tuyên ngôn Độc lập đã được các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu, làm rõ, nhưng hiện vẫn còn những luận điệu xuyên tạc, đặt câu hỏi với dụng ý xấu: Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập bằng những câu trích dẫn từ hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp?
Điều này cần phải hiểu và lý giải rõ.
Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới như UNESCO đã tôn vinh,  Người nhắc đến hai văn kiện lịch sử ấy với lòng trân trọng đặc biệt của một trí tuệ lớn đối với sự phát triển của văn minh nhân loại mà Cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Cách mạng tư sản Pháp 1789 đã giành được. Đây là những thành quả văn hoá của nhân loại, là dấu mốc lớn của lịch sử loài người, trong đó đã khẳng đinh những quyền cơ bản của con người. Đó là "quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” … “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”… Đây là những tư tưởng rất tiến bộ đã được khẳng định trong hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp. Dẫn dắt từ sự kiện này để Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến kết luận nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của quốc tế đối với cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam.
Hai là, trên nền tảng và  tiền đề đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh  khẳng định rằng, chính cuộc cách mạng mà dân tộc Việt Nam đã giành được vào Tháng Tám năm 1945 là bước đi tiếp trong sự phát triển của nhân loại, đồng thời cũng là cột mốc cho sự phát triển của lịch sử giải phóng con người thuộc các dân tộc bị áp bức, bóc lột. Đó là mẫu hình đầu tiên và cũng là ngọn cờ đầu của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhỏ yếu thoát khỏi ách đô hộ, thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới mà cách mạng Việt Nam do Đảng và  Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã gương cao.
Ba là, đi sâu nghiên cứu hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp, chúng ta thấy cả hai bản Tuyên ngôn đã đề cao và khẳng định quyền con người: “Mọi người đều sinh ra bình đẳng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Chính sự suy rộng ra đã thể hiện một tư tưởng lớn, một luận điểm quan trọng thể hiện sự vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được trình bày trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam. Đây là một nội dung rất căn bản, có ý nghĩa không chỉ đối với dân tộc ta mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với thời đại. Từ đó tới nay, các nước trên thế giới đã và đang liên tục đấu tranh để giành độc lập, giành quyền dân tộc cơ bản của mình.
Như vậy, có thể thấy, với vốn tiếng Anh cùng với thiên tài trí tuệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dịch và trích dẫn Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp nhưng có sự điều chỉnh và phát triển để thể hiện quan điểm riêng của mình về quyền con người và trên thực tế,  tinh thần ấy đã được thể hiện và khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam từ trước đến nay.
Đó chính là sự đóng góp về lý luận và thực tiễn về quyền con người, đem lại những tiến bộ và phù hợp với sự phát triển của nhân loại.

72 năm đã trôi qua, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 đã trở thành sức mạnh to lớn, đưa dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn thách thức, thực hiện lời thề với Người trong ngày lễ độc lập “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Tuyên ngôn Độc lập đã và đang khơi nguồn sáng tạo soi sáng con đường cách mạng Việt Nam hướng lên tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ phát triển mới. Vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh./.

Thứ Hai, 5 tháng 6, 2017

Hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ

        Cả cuộc đời của Bác Hồ kính yêu là một cuộc hành trình không mệt mỏi vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Ngày 05/6/1911 đã trở thành một dấu mốc đặc biệt quan trọng, không chỉ trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác, mà còn đối với lịch sử của cả một dân tộc, Bác Hồ, lúc đó là người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, với tên mới là Văn Ba đã rời Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) ra đi với một hoài bão lớn, nung nấu một quyết tâm cháy bỏng đó là giành “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Cuộc hành trình qua 3 đại dương, 4 châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ và gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố lớn, nhỏ, tiếp xúc với nhiều dân tộc, nhiều nền văn hóa đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin,tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản.

Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác Lênin, thể hiện tính qui luật của sự phát triển lịch sử của xã hội Việt Nam, trở thành  quan điểm xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Thực tế lịch sử đã chứng minh, đó chính là Đường cách mệnh cho dân tộc ta mà Người đã chọn, sự lựa chọn lịch sử đúng đắn và duy nhất!
        Đã gần 50 năm kể từ ngày Bác đi xa, nhưng trong lòng các thế hệ Việt Nam, Người vẫn còn sống mãi. Tư tưởng, đạo đức, phong cách sáng ngời của Bác luôn soi rọi con đường cách mạng trong mỗi bước đi lên của đất nước. Nhắc lại hành trình cứu nước 106 năm về trước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta đều khắc ghi sâu trong tim lòng biết ơn vô hạn đối với những hi sinh lớn lao mà Bác đã trải qua trong suốt 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Đó là dấu mốc lịch sử quan trọng và thiêng liêng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nay đất nước ta bước vào một thời đại mới, một kỷ nguyên mới, đang khoác trên mình diện mạo mới, đổi thay, hội nhập và ngày càng phát triển, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta nguyện vững bước trên con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như ước mong giản dị của Người!

Thứ Hai, 8 tháng 5, 2017

Ý nghĩa thời đại của chiến thắng phát xít

Ngày 09/05/1945 cách đây hơn bảy thập kỉ được coi là ngày kỷ niệm chiến thắng của các nước Đồng Minh chống phát xít đối với quân đội của Đức quốc xã. Đối với đông đảo nhân dân các dân tộc, đặc biệt là nhân dân Nga, đây là chiến thắng vĩ đại với những giá trị trường tồn cùng thời gian.

Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Xô-viết không chỉ cứu nhân loại thoát khỏi nạn diệt chủng của chủ nghĩa phát xít, hậu thuẫn cho phong trào giải phóng dân tộc ở các châu lục giành thắng lợi, trong đó có Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam mà còn tạo ra những nhân tố thời đại để có thể loại trừ chiến tranh thế giới ra khỏi đời sống loài người.
Cách đây 72 năm, ngày 9/5/1945, đại diện của Đức quốc xã đã ký văn bản đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh, chấm dứt chiến tranh thế giới thứ hai tại châu Âu - cuộc chiến tranh tàn khốc nhất, đổ máu nhiều nhất và khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. 72 quốc gia đã bị cuốn vào cuộc chiến tranh, nó đã cướp đi sinh mạng của hơn 60 triệu người, khoảng 90 triệu người bị tàn phế, thiệt hại về vật chất ước tính khoảng 4.000 tỷ USD.
Góp phần làm nên thắng lợi hoàn toàn của chiến tranh trong đó có nhân dân - những người con Xô viết anh hùng, tiến hành một cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, chịu biết bao hy sinh, tổn thất vô cùng to lớn để làm nên những chiến thắng vĩ đại. Và với những thắng lợi chung, đã tạo điều kiện để các dân tộc bị áp bức nói chung, nhân dân các nước thuộc địa nói riêng, vũ trang giải phóng dân tộc, giành tự do, độc lập cho dân tộc của mình.
Chiến thắng Phát xít là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của thế kỉ XX, mang tầm vóc, giá trị và ý nghĩa thời đại vô cùng sâu sắc. Và điều đó nó thể hiện trước hết là nhân dân Liên Xô và Hồng quân đã giúp loài người, cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa diệt chủng gây ra. Chiến thắng Phát xít  là một trong những cột mốc đánh dấu sự phát triển quyền tự quyết của các dân tộc về quyền tự quyết, tự chủ, quyền độc lập dân tộc quyền độc lập bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của mình và quyền được khẳng định giá trị nhân văn của mình.
Với thế giới, chiến thắng đã mở ra một kỉ nguyên mới, một trật tự thế giới, mà người ta gọi là trật tự thế giới hai cực, trong đó Mỹ và Liên Xô đóng vai trò quan trọng. Mở ra một kỉ nguyên mới, đó là hòa bình hợp tác và phát triển, đánh dấu bằng sự ra đời của tổ chức Liên hợp quốc mà ngày nay thì đã có tới gần 200 quốc gia tham gia.
Chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc – một thiên hùng ca lịch sử về chiến tranh được khép lại, nhưng nó sẽ mãi được nhắc đến trong lịch sử nhân loại, bởi lẽ nó tác động sâu sắc đến hệ thống CNTB ( Chủ nghĩa tư bản) ở Châu Âu, làm thay đổi cục diện chính trị và đưa Châu Âu trở thành một khu vực hòa bình ổn định, đồng thời cũng khẳng định sự thắng lợi của chế độ XHCN. Từ đây các nước Xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã trở thành một hệ thống quốc tế quan trọng có thể ngang bằng với hệ thống CNTB.
Với thắng lợi này, thì Liên Xô đã cùng với nhiều nước Đông Âu là xây dựng và hình thành một hệ thống XHCN thế giới. Và so sánh lực lượng giữa CNXH và CNTB trên thế giới đã có thể nói là đã được so sánh có lợi cho phe CNXH lúc bấy giờ.

Đối với người dân Liên Xô, chiến thắng chủ nghĩa phát xít là chiến thắng của nhân dân và quân đội Xô Viết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, của các nước đồng minh và các lực lượng tiến bộ thế giới. Và với vai trò trụ cột của mình, Liên Xô đã trở thành trung tâm đoàn kết, đấu tranh vì nền hòa bình của thế giới, có những đóng góp to lớn về nhiều mặt cho nền văn minh của nhân loại, cho những giá trị nhân đạo cao cả của lịch sử loài người. Thắng lợi này cũng đã thể hiện rõ uy tín về chính trị cũng như vị thế Quốc tế mới của Liên Xô trên trường quốc tế. Và Liên Xô đã trở thành một cường quốc không những về chính trị, về kinh tế, về văn hóa, về khoa học kĩ thuật và đến trước khi mà Liên Xô tan rã thì Liên Xô đã thực sự trở thành một thành trì của hòa bình thế giới và đã là một trong những trụ cột của phe dân chủ thế giới để chống các thế lực cường quyền và các thế lực đế quốc xâm lược và ủng hộ, giúp đỡ to lớn có hiệu quả đối với phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Đó chính là đóng góp của bản thân Liên Xô và hệ thống XHCN thế giới khi tồn tại đối với lịch sử phát triển của xã hội loài người.

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

SỐNG GIỮA THỜI ĐẠI MẠNG XÃ HỘI, RẤT CẦN SỰ THÔNG THÁI!

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 đã đem công nghệ thông tin tới tất cả mọi tầng lớp trong xã hội với các thiết bị nghe nhìn thông minh, với giá cả “hợp lý”, công nghệ tân tiến và liên tục phát triển…thiết bị công nghệ trở thành một trong những nhu cầu cần thiết đối với giới trẻ, cùng với nó là sự bùng nổ như nấm mọc sau mưa của các trang mạng xã hội.
nam 
        Bên cạnh những tiện ích từ các trang mạng xã hội như tính thời sự, tính thực tế, tính lan tỏa, dễ thao tác, thực hành do đó dễ dàng tiếp cận thông tin và cơ bản là miễn phí truy cập… thì những tác hại mặt trái của nó cũng rất lớn và nguy hiểm như không thể kiểm soát, kiểm chứng thông tin, hoặc đua theo những trào lưu vô cảm, đang biến các trang mạng xã hội thành những cái bẫy nguy hiểm cho người sử dụng. Vì mạng xã hội là nơi thể hiện quan điểm mang tính cá nhân, nhiều thông tin thiếu chính xác, vô bổ, hoặc mang ý đồ không minh bạch… do đã có không ít thông tin thiếu chính xác được đăng lên làm ảnh hưởng đến đời tư của người liên quan, gây ảnh hưởng xấu đến xã hội, gây những luồng dư luận trái chiều, đánh đồng tốt – xấu, đúng – sai, hay – dở... từ đó tạo cớ cho những kẻ phản động, cơ hội chính trị đứng đằng sau kích động một số người dân nhẹ dạ, thiếu thông tin, thiếu hiểu biết mà lu loa, rùm beng gây rối mà không biết mình đã vi phạm pháp luật, như một số bà con giáo dân Hà Tĩnh sống gần Formosa là một điển hình, hay như ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, người dân đã bắt giữ công an, cán bộ trái phép bởi “một số cái đầu nóng”… đúng hay sai đã có chính quyền các cấp, có hệ thống pháp luật phân xử rạch ròi để các bên phải tâm phục, khẩu phục. Đó là những điển hình về tác động, sự lan tỏa của mạng xã hội với những luồng thông tin như “ma trận”, bạn đọc cần hết sức thông minh, tỉnh táo khi tỏ thái độ, cảm xúc hay bình luận các thông tin đó. Nhất là cho đến nay, có  khoảng hơn 2.500 trang web, blog, mạng xã hội của các cá nhân, tổ chức phản động đang hoạt động và đăng tải các tin, bài viết, bình luận, phỏng vấn với mục đích tuyên truyền phá hoại tư tưởng nhằm chống phá Nhà nước; trong đó, nổi lên là các trang như: “Dân làm báo”,”Quan làm báo”, “Dân luận”,”Việt Tân”…
       Những tin, bài viết tuyên truyền chống phá trên mạng xã hội có số lượng và tần suất đăng tải lớn, nội dung đa dạng, phong phú trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc tinh vi, xảo quyệt, khó nhận biết, khó phân biệt thật, giả đã tác động mạnh mẽ, tiêu cực đến tư tưởng, hành vi của một bộ phận quần chúng nhân dân, nhất là các tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, văn nghệ sĩ.
        Trên thực tế, đã có nhiều trường hợp người dân do bản lĩnh chính trị yếu kém, tư tưởng hám lợi, bất mãn, lại bị tác động bởi các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, lôi kéo của các thế lực thù địch, phản động, dẫn tới có hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Điển hình như các trường hợp: Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Đinh Nhật Uy, Hồ Đức Hòa, Huỳnh Thục Vi, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài… bị các đối tượng phản động bên ngoài tuyên truyền, lôi kéo và đã có các hành vi như: Viết bài xuyên tạc, bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước; rải truyền đơn, kích động quần chúng nhân dân biểu tình, gây rối an ninh, trật tự.
       Hãy là người thông thái trong thế giới toàn cầu hóa, trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 và sự bùng nổ thông tin trên không gian mạng!
                                                                                           NHN