Thứ Tư, 29 tháng 11, 2017

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRỞ THÀNH MỘT ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Kinh tế t­­ư nhân (KTTN), là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư­­ nhân về t­­ư liệu sản xuất. KTTN tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng xét về quy mô và trình độ phát triển của lực l­­ượng sản xuất như­­: Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, tổ hợp sản xuất, doanh nghiệp t­­ư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Căn cứ vào tính chất sở hữu, KTTN được chia thành hai dạng: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế t­­ư bản tư nhân. Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm phát triển và coi trọng các thành phần kinh tế, trong đó có KTTN, bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.

         Để phát huy hơn nữa vai trò của KTTN, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW “về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”. Nghị quyết là bước tiếp nối và phát triển của Nghị quyết số 14-NQ-TW ngày 18/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa IX về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN. Việc ra đời Nghị quyết thể hiện đánh giá đúng của Đảng đối với vai trò và tầm quan trọng của khu vực KTTN trong phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) đất nước giai đoạn tới, đặc biệt là đối với việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện ba đột phá chiến lược; Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực hội nhập quốc tế.
NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT
Qua 15 năm thực hiện, Nghị quyết số 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN”, đã góp phần quan trọng thúc đẩy KTTN phát triển nhanh và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, đồng thời góp phần hình thành, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Một là, nhận thức về vị trí, vai trò của KTTN đã có những bước tiến quan trọng, ngày càng tích cực hơn. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện. Quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức được thể chế hóa và được pháp luật bảo vệ. Phương thức quản lý của Nhà nước đối với KTTN được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường.
Hai là, KTTN đã phát triển trên nhiều phương diện; hiệu quả, sức cạnh tranh dần được nâng lên; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn KTTN có qui mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Trong những năm qua, vai trò, vị trí của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ngày càng được nhận thức rõ hơn và đánh giá đúng hơn. KTTN ngày càng đóng góp lớn hơn trong huy động các nguồn lực xã hội cho sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội và tăng cường quốc phòng, an ninh. “KTTN liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng 39 - 40% GDP thu hút khoảng 85% lao động trong nền kinh tế”[1]; “tỷ trọng nguồn vốn của các doanh nghiệp tư nhân trong cơ cấu tổng lượng vốn đầu tư xã hội tăng qua các năm: năm 2002 chiếm 25,3%, năm 2010 chiếm 36,1%, năm 2015 chiếm 38,7%”[2].
Ba là, đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đạo đức, văn hóa kinh doanh của doanh nhân dần được nâng lên.
Bốn là, mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng trong khu vực KTTN được cấp ủy đảng quan tâm đổi mới, hoàn thiện; đảng viên được làm kinh tế tư nhân và chủ doanh nghiệp của tư nhân được thí điểm kết nạp vào đảng.
Năm là, hoạt động giám sát, phản biện chính sách, vai trò tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động của của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp được quan tâm đổi mới, nâng cao hiệu quả.
HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN
Bên cạnh sự phát triển nhanh và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, KTTN còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém.
Một là, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách khuyến khích KTTN phát triển còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ.
Các quy định pháp luật và các cơ chế, chính sách về tài chính, tín dụng, thuế, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, về lao động, tiền lương, giáo dục đào tạo, về dịch vụ công, về khoa học và công nghệ, về thương mại và hội nhập quốc tế, …để khuyến khích KTTN phát triển còn chưa đồng bộ, bất cập, thiếu linh hoạt và chưa được thực hiện nghiêm. Môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao, thiếu sự an toàn và tính minh bạch. Kinh tế vĩ mô chưa ổn định vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định. Nguy cơ lạm phát, tỷ giá, lãi suất cao trở lại, thiếu ổn định còn lớn. Bội chi ngân sách nhà nước và nợ công cao; đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro an toàn hệ thống tài chính còn cao. Trật tự và kỷ luật thị trường còn nhiều yếu kém; vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh diễn ra khá phổ biến trên thị trường. Sự minh bạch, công khai trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý của Nhà nước còn nhiều hạn chế.
Hai là, KTTN chưa đáp ứng được vai trò là một động lực.
Tốc độ tăng trưởng GDP của KTTN có xu hướng giảm trong những năm gần đây. “Giai đoạn 2003-2010: 11,93 %/năm; giai đoạn 2011-2015: 7,54%/năm”[3]. KTTN có quy mô nhỏ, chủ yếu vẫn là kinh tế hộ kinh doanh. Số lượng các hộ gia đình, cá thể chiếm khoảng 95% tổng số chủ thể KTTN”[4].
Trình độ công nghệ, trình độ quản trị, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh thấp. Phần lớn doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu và phụ thuộc vào nhập khẩu “số lao động có kỹ thuật chuyên môn chỉ khoảng 7%; đầu tư cho đổi mới thiết bị, công nghệ chiếm 3% doanh thu”[5]. Quản trị của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh cá thể trong KTTN còn rất yếu, hệ thống kế toán, quản lý tài chính chưa thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật, hoạt động thiếu minh bạch.
KTTN có cơ cấu ngành nghề còn bất hợp lý, thiếu liên kết với nhau và với các thành phần kinh tế khác khoảng 81% cho các hoạt động thương mại và dịch vụ nhỏ, lẻ phục vụ người tiêu dùng; phần còn lại khoảng 19% hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Khả năng tham gia chuỗi giá trị sản xuất trong nước, khu vực và toàn cầu thấp. Tỷ lệ doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động cao, “bình quân giai đoạn 2007-2015 là 45% tổng số doanh nghiệp còn hoạt động trong nền kinh tế. Năm 2016 có 73.130 doanh nghiệp chấm dứt hoạt động và 20.345 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, trong khi số doanh nghiệp thành lập mới là 110.100 doanh nghiệp”[6].
Ba là, vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong KTTN còn khá phổ biến. Nhiều doanh nghiệp có số vốn ít nhưng đăng ký nhiều ngành nghề kinh doanh, không xác định rõ mục tiêu sản xuất kinh doanh, xây dựng dự án đầu tư thiếu tính khả thi. Một số doanh nghiệp của tư nhân được lập ra để tiến hành các hoạt động bất hợp pháp như mua bán hóa đơn khống, buôn lậu,... Tình trạng gian lận thương mại, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu xảy ra phổ biến.
Bốn là, nhiều quy định của pháp luật về KTTN chưa được thực hiện nghiêm; nhất là lĩnh vực đầu tư, đất đai, tín dụng, thuế và hải quan. Môi trường đầu tư kinh doanh, khởi nghiệp còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao và thiếu minh bạch. Quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản, tiếp cận các cơ hội kinh doanh, nguồn lực xã hội chưa thực sự bình đẳng giữa KTTN và các thành phần kinh tế khác; chi phí trung gian, không chính thức còn nhiều; vẫn còn biểu hiện của cơ chế xin - cho.
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là: Chưa có sự thống nhất cao về lý luận và nhận thức đối với phát triển KTTN; thể chế về phát triển doanh nghiệp, doanh nhân còn nhiều bất cập. Chưa tạo được bước đột phá trong đổi mới, hoàn thiện thể chế KTTN và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTN đạt hiệu quả chưa cao và còn chưa nghiêm túc. Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại của KTTN thấp.
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
Để phát triển kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết đã xác định 5 nhiệm vụ giải pháp chủ yếu.
Một là, thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng, hành động trong triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển KTTN. Đây là nhiệm vụ giải pháp hàng đầu nhằm tạo sự đồng thuận cao về nhận thức, tư tưởng, hành động trong toàn xã hội, tạo điều kiện cho KTTN phát triển.
Trong đó, cần tập trung nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội về khuyến khích, tạo mọi điều kiện phát triển KTTN, về chức năng của Nhà nước và thị trường trong nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập.
Tổng kết một số mô hình doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay để có cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo. Phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn của KTTN trong phát triển KT-XH phải đi đôi với khắc phục triệt để những mặt trái phát sinh trong quá trình phát triển KTTN.
Phòng, chống có hiệu quả các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương, cơ chế, chính sách đối với KTTN.
Hai là, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển KTTN. Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN” việc tạo lập “môi trường đầu tư, kinh doanh, khởi nghiệp còn nhiều hạn chế”[7]. Vì vậy, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để KTTN phát triển có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong đó, cần triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý, đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và thực hiện ba đột phá chiến lược. Phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, hạn chế sự gia tăng nợ công, lấn át đầu tư của khu vực tư nhân.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư tư nhân và bảo đảm hoạt động của KTTN theo cơ chế thị trường: Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền và nghĩa vụ dân sự của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. Mọi biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển KTTN phải phù hợp với nguyên tắc thị trường và thúc đẩy tính tự chủ, cạnh tranh của KTTN, không biến các cơ chế, chính sách hỗ trợ thành bao cấp, phục vụ “nhóm lợi ích” dưới mọi hình thức.
Mở rộng khả năng tham gia thị trường và thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng. Rà soát, xoá bỏ các cơ chế, chính sách tạo ra bất bình đẳng giữa KTTN và các thành phần kinh tế khác, giữa các chủ thể của KTTN, nhất là trong cạnh tranh và tiếp cận nguồn lực xã hội, các yếu tố sản xuất, cơ hội kinh doanh, tham gia thị trường, mà trọng tâm là đất đai, vốn, nguồn lực của Nhà nước. Tăng cường tính minh bạch đối với độc quyền nhà nước, độc quyền doanh nghiệp và kiểm soát độc quyền kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Xóa bỏ các chính sách hành chính can thiệp trực tiếp vào thị trường và sản xuất kinh doanh, nhất là giá cả hàng hóa, dịch vụ.
Tạo điều kiện cho KTTN tham gia vào quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thông qua góp vốn, mua cổ phần để hình thành các tổ chức sản xuất kinh doanh hỗn hợp, có năng lực tài chính, quy mô hoạt động lớn, công nghệ và quản trị hiện đại, nhất là sớm phát triển các tập đoàn KTTN đa sở hữu có khả năng cạnh tranh ở thị trường trong nước và quốc tế.
Phát triển nhanh hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại nhằm hỗ trợ sản xuất kinh doanh và tạo điều kiện thuận lợi cho KTTN tiếp cận, sử dụng thuận lợi, bình đẳng với chi phí hợp lý, bảo đảm tính công khai, minh bạch.
Khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về đất đai, quản lý tài nguyên và môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho KTTN tiếp cận đất đai, các nguồn tài nguyên một cách minh bạch, bình đẳng theo cơ chế thị trường, phục vụ sản xuất kinh doanh
Ba là, hỗ trợ KTTN đổi mới sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.
Khuyến khích KTTN đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ tiên tiến, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo nhằm nâng cao năng suất lao động.
Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực với hệ thống chính sách, giải pháp đồng bộ. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chú trọng xây dựng, nâng cao văn hóa doanh nghiệp và đạo đức doanh nhân.
Khuyến khích, động viên và lan tỏa tinh thần, ý chí khởi nghiệp, kinh doanh và đổi mới, sáng tạo trong toàn xã hội, nhất là cộng đồng doanh nghiệp; xây dựng thương hiệu và chữ tín trong kinh doanh...
Bốn là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong đó, tập trung xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt, tư tưởng chính trị vững vàng, trách nhiệm cao và liêm chính.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp đối với việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với KTTN nhưng phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo gánh nặng tâm lý đối với người dân và doanh nghiệp. Phòng, chống, xoá bỏ mọi biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ “lợi ích nhóm” trong xây dựng và thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách đối với KTTN.
Nâng cao năng lực tổ chức quản lý nhà nước về KTTN. Đẩy mạnh cải cách hành chính mà trọng tâm là tạo bước đột phá trong cải cách thủ tục hành chính. Đơn giản hoá, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành chính, nhất là về thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, cấp phép, thuế, xuất khẩu, nhập khẩu, giải quyết tranh chấp, tố tụng, xét xử, thi hành án dân sự, kinh tế, phá sản.
Hoàn thiện và công khai, minh bạch hệ thống thông tin KT-XH, cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển, cơ chế, chính sách quản lý để tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận khai thác và sử dụng.
Năm là, đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đối với KTTN
Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng trong khu vực KTTN phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Có giải pháp thực hiện chủ trương phát triển đảng trong khu vực KTTN. Coi trọng công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương của Đảng về phát triển KTTN; bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng trong khu vực KTTN.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong phát triển KTTN. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, làm tốt vai trò tổ chức đại diện, tích cực phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh doanh, đào tạo, kỹ thuật và tư vấn cho các hội viên./.
                                                                                                              - NVK -

[1]
 Đảng Cộng sản Việt nam (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 89.
[2] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 36.
[3] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 57.
[4] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 57.
[5] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 60.
[6] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 65.

[7] Đảng Cộng sản Việt nam (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 92.

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Trận "Điện Biên Phủ trên không" – Bản hùng ca của dân tộc

Năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.
Đúng như lời tiên đoán của Bác, tháng 12 năm 1972, với Chiến dịch Linebacker II, đế quốc Mỹ vạch ra kế hoạch đánh phá miền Bắc Việt Nam với mục đích đưa Bắc Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá” bắt buộc ta phải ký kết Hiệp định Pa-ri theo những điều khoản do Mỹ định ra. Chiến dịch diễn ra từ ngày 18 tháng 12 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972. Trong chiến dịch này, Tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng bằng máy bay chiến lược B52. Nhưng chiến dịch ấy đã hoàn toàn thất bại!

Thượng tướng Anatoli Khiupenen, nguyên Trưởng Đoàn cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam, nhận định: “Điện Biên Phủ trên không của Việt Nam cũng giống như trận Stalingrad của Liên Xô”. Thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Linebacker II trong 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972 đã làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” của dân tộc Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về mọi mặt trong suốt 8 năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Chiến thắng cuộc tập kích bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng của quân và dân ta là đòn giáng trả chí mạng vào sức mạnh không lực Mỹ, góp phần buộc Mỹ phải ký kết vào Hiệp định Paris, rút toàn bộ quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam./.

KHÓC MƯỚN!

          Hôm qua (23/11/2017), cây bút Đỗ Hồng có bài viết “Chiến sĩ văn hóa” trên Blogger Danlambao. Trong bài viết này tác giả đã chủ quan, càn dở khi cho rằng: Xã hội Việt Nam dưới thời cộng sản sau năm 1975 không còn có những quyền tự do căn bản nhất của con người và văn hóa thì nghèo nàn hay không muốn nói là suy đồi. Tuy chưa đến đỗi vô văn hóa, nhưng xã hội này dường như đã trở thành một vùng rừng rú suốt hơn 42 năm qua?
          Vậy thưa tác giả Đỗ Hồng, cái mà ông ca ngợi là “văn hóa” hay “văn hóa cao” theo tiêu chí cá nhân ông của thời ngụy quyền Việt Nam cộng hòa ấy nó giàu bản sắc và giá trị đến cỡ nào? Về vật chất: đó là một nền văn hóa thực dụng, chạy theo văn hóa phương Tây suy đồi, biết bao cô gái từ thôn quê đến thành thị làm cái nghề nhơ nhớp bán thân nuôi mình và khi miền Nam giải phóng đã để lại hậu quả 50.000 đứa trẻ con lai có thể được coi là thành tựu giao lưu văn hóa Đông  - Tây chăng?

          Quân đội ngụy, cảnh sát ngụy dùng các phương tiện chuyên biệt để buôn bán ma túy, đầu độc giới trẻ tràn lan - ấy là thành tựu văn hóa sao? 
Còn về văn hóa tinh thần – dù là những người có hiểu biết nhưng anh em nhà họ Ngô vì cổ súy cho Đạo Thiên chúa mà đàn áp các tăng ni, phật tử để đến nỗi các nhà sư phải tự thiêu thì có thể ca ngợi thế nào nhỉ?
          Cái sự phồn vinh của xã hội miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là nhờ hoàn toàn vào viện trợ của nước ngoài – đặc biệt là Mỹ thì bên trong sự hào nhoáng ấy có còn hồn cốt dân tộc chúng ta không thưa ông Đỗ Hồng?
          Dân tộc Việt Nam đã tốn bao xương máu để đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối sau cái ngày 30/4 lịch sử ấy – và cái ngày ấy cả thế giới xuống đường vẫy cờ hoa chúc mừng, ngưỡng mộ dân tộc Việt Nam có độc lập, tự do toàn vẹn – sao ông lại có thể phủ nhận cái gọi là chân lý nhỉ?
          Từ khi đất nước thống nhất cho dến nay, điều hiển nhiên là văn hóa được chăm lo, quan tâm và phục hưng, phát triển. Hàng loạt các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới: Từ vịnh Hạ Long đến Cung đình Huế, tháp Chàm Mỹ Sơn, phố cổ Hội An đến tục thờ cúng Hùng Vương, hát Xoan Phú Thọ…các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn, các giá trị văn hóa hiện đại được chọn lọc, bổ xung, thâu hóa dưới con mắt của ông hóa ra lại là sự suy đồi! lạ, lạ quá, lạ cho cái cách suy nghĩ của ông, cái cách xuyên tạc của ông và vì thế không khó để nhận ra cái động cơ khóc mướn của ông. Đọc xong bài viết tôi cứ nghĩ sao lại là Đỗ Hồng được nhỉ? Tên ông, hay bút danh của ông phải là Đỗ Đen mới đúng – cho dù nói thế cũng oan gia cho họ nhà đỗ đen thực sự có ích cho con người. Đỗ Hồng như ông chỉ như là một loại cỏ dại lạc loài trên thế gian này mà thôi! 
           NHN


Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG SUY THOÁI VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi ra đời đến nay, tùy theo bối cảnh lịch sử và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của từng thời kỳ mà Đảng ta xác định nội dung, vấn đề cần tập trung giải quyết về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng ngang tầm sự nghiệp lãnh đạo cách mạng. Trong công cuộc đổi mới đất nước, từ tổng kết lý luận và thực tiễn, nhất là từ vai trò, ý nghĩa, kết quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong giai đoạn mới, lần đầu tiên, Đảng ta xác định “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”[2] và nhấn mạnh, cần coi trọng xây dựng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên. Coi đó vừa là mục tiêu vừa là khâu then chốt  trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay, “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đàng viên”[3]

Quán triệt quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong công cuộc đổi mới, có thể phác họa chân dung đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, đó là, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp của Đảng, của Tổ quốc và Nhân dân, trung với nước, hiếu với dân, đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước và Nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân, theo nguyên tắc "Dĩ công vị thương". Thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Không tham nhũng, lãng phí. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, cương lĩnh, kỷ luật của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Ra sức học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, năng lực công tác, giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh. Đề cao tự phê bình và phê bình nhằm góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh. Gương mẫu trong mọi việc, gắn bó mật thiết, đoàn kết, thân ái, nêu cao tinh thần thương yêu đồng chí, đồng bào.
Đối chiếu với chuẩn mực đạo đức cách mạng ấy, trong thực tiễn những năm qua, đa số cán bộ, đảng viên kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; phát huy được vai trò tiên phong, năng động, sáng tạo trong công tác, lao động, cuộc sống, tích cực rèn luyện phẩm chất, trau dồi năng lực; đội ngũ có bước trưởng thành, đóng vai trò nòng cốt, góp phần xứng đáng vào thành quả chung của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây đắp lên nhiều kết quả quan trọng của công tác xây dựng đảng, củng cố, tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Song, bên cạnh đó, tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang diễn ra với mức độ nghiêm trọng, có xu hướng lan rộng ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, vụ lợi, vị kỷ trong cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn và đẩy lùi; tệ tham nhũng, hối lộ, bòn rút của công không giảm; lối sống cơ hội, thực dụng ngày càng gia tăng; lời nói không đi đôi với việc làm; quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở; toan tính vụ lợi, ... đang hàng ngày, hàng giờ tác động trực tiếp đến quan hệ đạo đức gia đình và xã hội. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng nhận định, một trong bốn nguy cơ vẫn tồn tại và có phần diễn biến phức tạp hơn, khi một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng…. cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...  tệ chạy chức, quyền, bằng cấp, tội vẫn còn; không trung thực, chạy theo lối sống cơ hội, thực dụng. Tình trạng đó làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, cần phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của Nhân dân đối với Đảng. Đây là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Tăng cường hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên là một trong những nhiệm vụ vừa cơ bản vừa cấp bách trong công tác xây dựng,chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Ngọn nguồn của sự suy thoái về đạo đức, lối sống trước hết là do bản thân cán bộ, đảng viên thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện; lập trường không vững, tư tưởng hoang mang dao động; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước Tổ quốc và Nhân dân. Đồng thời, các tổ chức đảng chưa phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong bồi dưỡng, giáo dục quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; những yếu kém, bất cập trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Bên cạnh đó, mặt trái của quá trình toàn cầu hóa, sự lợi dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để cổ xúy cho lối sống hưởng lạc, thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, tất cả vì đồng tiền…
Để góp phần thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, cần quán triệt, triển khai thực hiện đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, củng cố và phát triển nhận thức, trách nhiệm về đạo đức cách mạng. Đạo đức cách mạng là phẩm chất hàng đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, được hình thành, phát triển thông qua giáo dục, học tập và rèn luyện trong thực tiễn, không bất biến, có tính kế thừa và không ngừng được bổ sung trong điều kiện mới. Do vậy, phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên cần phải được bồi đắp thường xuyên thông qua hoạt động giáo dục, rèn luyện, làm cho họ luôn xứng đáng đứng trong hàng ngũ “là đạo đức, là văn minh” của Đảng ta, luôn tiên phong về lý luận và thực tiễn. Tính thường xuyên phải được thực hiện trong mục tiêu, phương thức giáo dục, rèn luyện, không chỉ dừng lại trong nhà trường đào tạo, trong công tác, trong sinh hoạt đảng mà còn được triển khai đồng bộ, tích hợp khi liên tục giáo dục, bồi dưỡng về lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị của Đảng theo quá trình công tác, cống hiến; kể cả trong sinh hoạt cộng đồng, nơi cư trú. Mặt khác, tính thường xuyên còn phải được thấm nhuần trong phương pháp, hình thức giáo dục, rèn luyện, nhất là trong thuyết phục, nêu gương, giáo dục riêng. Chỉ có tiến hành thường xuyên công tác giáo dục, rèn luyện mới phát hiện, giải quyết được những bất cập, đáp ứng yêu cầu bổ sung, phát triển những phẩm chất đạo đức cách mạng mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong kỷ nguyên công nghệ thông tin, công nghệ hội tụ (4.0) nhất là những chuẩn mực về nhãn quan chính trị - xã hội, thái độ ứng xử, giải quyết mối quan hệ xã hội, quan hệ lợi ích, quan hệ công tác, sinh hoạt khi xã hội đã có bước chuyển mình nhanh chóng trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên cũng cần phải hết sức giữ gìn, phát huy những chuẩn mực mang tính căn cốt, bản chất của đạo đức cách mạng, không thể lấy cái ứng biến thay thế cái bất biến, lấy cái riêng đa dạng, phong phú thay cho cái chung xuyên suốt, phổ biến về phẩm chất, chuẩn mực đạo đức cách mạng.
Hai là, kiến tạo môi trường, điều kiện, cơ chế bảo đảm cho việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên là con người của xã hội, được Đảng phân công nhiệm vụ, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền có thể được nắm giữ những chức vụ, cương vị trong hệ thống chính trị. Vì vậy, cần thấu suốt, đồng bộ hóa quá trình giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên với quá trình xây dựng đạo đức xã hội, trong đó, phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên phải đóng vai trò tiên phong, dẫn dắt, nêu gương, nhưng không quá tách biệt, có khoảng cách lớn với nền tảng đạo đức chung của xã hội. Các tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác, sinh hoạt, nhất là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải thực sự là “Trường học thực tiễn” giáo dục, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện nhất quán trong phương thức quản lý cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện đảng cầm quyền, việc cất nhắc, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ phải dựa trên cơ sở đánh giá, xem xét toàn diện phẩm chất và năng lực, đức và tài, trong đó, hết sức coi trọng nguyên tắc lấy đạo đức của cán bộ, đảng viên là gốc. Kiên quyết phát hiện, loại bỏ những cán bộ, đảng viên dù có tài nhưng suy thoái đạo đức, lối sống, nhất là đạo đức chính trị. Tiếp tục nghiên cứu, phát triển cơ chế, và cụ thể hóa thành quy trình đào tạo, quy hoạch, sử dụng cán bộ theo hướng chặt chẽ về nguyên tắc, dân chủ trong cách làm. Qua đó, tạo môi trường, điều kiện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên soi rọi, xác định mục tiêu, nhiệm vụ phấn đấu, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Điều đó góp phần quan trọng, tạo động lực thực hiện tốt việc kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức, chính sách; xây dựng đảng vững mạnh về tư tưởng, chính trị, tổ chức và đạo đức.
Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện với tự giáo dục, rèn luyện; giữa “xây” và “chống”. Đạo đức có tính xã hội, nhưng chính phẩm chất đạo đức cũng mang tính cá nhân, riêng có. Vì vậy, phải làm cho hai quá trình, giáo dục, rèn luyện và tự giáo dục, rèn luyện đồng hành, thâm nhập, gắn bó chặt chẽ với nhau, chú trọng yêu cầu và đề cao vai trò, trách nhiệm tự giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Muốn vậy, cần tập trung tổ chức thực hiện tốt tự phê bình, phê bình, tự soi, tự sửa trong sinh hoạt đảng, trong cuộc sống cộng đồng; thực hiện nói đi đôi với làm, nêu cao ý thức trách nhiệm là người có giác ngộ lý tưởng, giáo dục đạo đức cho quần chúng, theo đó, cán bộ, đảng viên phải tự tu dưỡng, rèn luyện, thực hành đạo đức làm gương cho mọi người noi theo. Song hành với quá trình xây dựng, phát triển đạo đức cách mạng là kiên quyết đấu tranh chống hành vi vi phạm pháp luật và những biểu hiện tiêu cực vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống hoặc có nguyên nhân từ sự kém rèn luyện đạo đức, lối sống. Thường xuyên tiến hành có hiệu quả các biện pháp kiểm tra, thanh tra, phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời, chính xác, không có vùng cấm đối với những biểu hiện sa sút về đạo đức dù ở bất cứ chức trách, cương vị nào của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ trọng trách. Tập trung phòng, chống tham nhũng, lãng phí, cửa quyền, quan liêu. Đồng thời có cơ chế, biện pháp bảo vệ, tôn vinh những cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu về đạo đức, lối sống trong Đảng, trong xã hội.

Bốn là, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm thiết thực, hiệu quả; lồng ghép với thực hiện nhiệm vụ chính trị, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng- an ninh. Bổ sung vào thang giá trị đạo đức, các phẩm chất đạo đức cơ bản của cán bộ, đảng viên các tiêu chí: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có tinh thần dũng cảm đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ. Chú trọng tuyên truyền nêu gương “người tốt, việc tốt”; lấy nhân tố tích cực đẩy lùi tiêu cực; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, vô trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, vi phạm chuẩn mực đạo đức, lối sống… Làm tốt việc giám sát, đánh giá mức độ chuyển biến tiến bộ của tập thể, cá nhân. Kết hợp với xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh, tiết kiệm, cấp trên nêu gương cho cấp dưới, người đứng đầu làm trước và phải thật sự mẫu mực. Tập trung xây dựng và triển khai thực hiện nghiêm túc tiêu chí học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cam kết không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo chức năng, chức trách, nhiệm vụ của các nhóm công tác, cá nhân cán bộ, đảng viên. Bên cạch đó, công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng phải được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, đạt hiệu quả thiết thực. Đi sâu vào tư tưởng chính trị, phẩm chất năng lực công tác, đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao... Cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, tổ chức trong tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là vai trò của cơ quan, ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp, tổ chức đảng, quần chúng đối với cán bộ, đảng viên; gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng. Kiên quyết xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách đảng viên, những tổ chức đảng yếu kém trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, sa sút về phẩm chất đạo đức, lối sống.

THỰC CHẤT “CHIẾN DỊCH KÊU GỌI TRẢ TỰ DO CHO 166 TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM”

Gần đây, trên một số trang mạng xã hội đang tích cực lan truyền cái gọi là “Chiến dịch kêu gọi chính phủ Việt Nam phải ngay lập tức và vô điều kiện trả tự do 166 tù nhân lương tâm Việt Nam” do “Liên hiệp các tổ chức nhân quyền NOW” phát động.
Vậy “166 tù nhân lương tâm Việt Nam” là ai? có một điểm chung, họ chính là những công dân Việt Nam, nhưng do có sự nhìn nhận, đánh giá chủ quan về các hiện tượng tiêu cực xảy ra trong xã hội, đã nảy sinh tư tưởng bất mãn với chế độ… Thêm vào đó, do bị kích động, lôi kéo, hậu thuẫn của các thế lực thù địch, họ đã sa ngã vào con đường đấu tranh mù quáng; tuyên truyền chống lại Nhà nước Việt Nam, với mưu đồ nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Hãy nghe những lời sám hối của họ sau khi bị bắt giam để hiểu hơn về những“tù nhân lương tâm”:

Lê Công Định: “Tôi đã tham gia tổ chức Đảng dân chủ Việt Nam nhằm mục đích lật đổ chính quyền nhân dân… Tôi nhận thức những việc làm nói trên đã vi phạm Điều 79 Bộ luật Hình sự… Tôi mong các cơ quan pháp luật xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để cho tôi được hưởng sự khoan hồng”.
Nguyễn Tiến Trung đã thừa nhận: “Rất ăn năn, hối hận vì những việc làm vi phạm pháp luật của mình trong thời gian vừa qua. Do nhận thức sai, hành vi của bị cáo giờ đây không chỉ ảnh hưởng đến gia đình, cha mẹ, bạn bè mà còn chống lại Nhà nước và nhân dân Việt Nam…” .
Trần Huỳnh Duy Thức, viết: “Tôi thực sự ân hận về việc làm của mình, tôi xin Nhà nước rộng lượng khoan hồng, miễn giảm hình phạt cho tôi để sớm được về với gia đình…”
Nguyễn Tiến Trung, cũng viết: “Tôi đã thấy được các hành vi của tôi là vi phạm pháp luật nghiêm trọng… nay tôi xin được hưởng sự khoan hồng”.
Ngoài những nội dung trên, theo khai báo và thú nhận của họ, mọi hoạt động chống phá, bôi nhọ chế độ đều được bọn phản động lưu vong ở nước ngoài chi tiền, trả “lương” hàng tháng.
Như vậy, rõ ràng hoạt động chống phá của họ đâu phải vì “tự do ngôn luận”, “dân chủ”, “nhân quyền” cho Việt Nam; và bản thân bọn họ cũng thừa nhận những việc làm đó là hoàn toàn sai trái. Hơn nữa, Luật quốc tế về quyền con người cũng như pháp luật của các quốc gia đều quy định: Quyền của cá nhân có thể bị hạn chế. Việc Nhà nước Việt Nam đưa ra quyền tự do ngôn luận, cùng với những quy định về hạn chế quyền này là hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Vì thế, bất cứ ai vi phạm pháp luật phải bị xử lý theo pháp luật, đó là điều mà quốc gia nào trên thế giới cũng đều thực hiện. Do đó, việc “Liên hiệp các tổ chức nhân quyền NOW” phát động “Chiến dịch kêu gọi chính phủ Việt Nam phải ngay lập tức và vô điều kiện trả tự do 166 tù nhân lương tâm Việt Nam” là một hành động hết sức phi lý, phi pháp, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam./.

Ảo tưởng của rận chủ!

Giới “rận chủ” vốn ảo tưởng với chuyến công du Châu Á của Tổng thống Mỹ Trump giờ đây đang thở dài ngao ngán. Chúng hy vọng rằng ông Trump sễ đến Việt Nam với thông điệp về cái gọi là “nhân quyền” để chúng hỉ hả với nhau mà tuyên truyền, xuyên tạc, lên án vấn đề “nhân quyền” ở Việt Nam. Chúng có biết rằng tại nơi mà chúng tôn thờ là “thiên đường nhân quyền”, tự cho mình chức năng làm “thẩm phán nhân quyền thế giới” đang có những hành động vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.

          Về quyền sống và đảm bảo an ninh. Theo báo cáo của FBI, năm 2012 Mỹ có 1,2 triệu vụ án bạo lực, trong đó 15.000 vụ án giết người, hơn 84.000 vụ hiếp dâm,... Mỗi anwm ở Mỹ có 100.000 người bị trúng đạn, 30.000 thiệt mạng.
          Về quyền dân sự và chính trị. Cả thế giới còn chưa hết bàng hoàng vụ nghe lén điện thoại, internet, đánh cắp thông tin từ người dân cho đến nguyên thủ các quốc gia khác, thậm chí là các quốc gia đồng minh. Đây là sự vi phạm quyền dân sự nghiêm trọng của con người và độc lập, chủ quyền các quốc gia khác. 80.000 tù nhân bị giam cầm chật chội, thiếu ánh sáng và không khí. Năm 2012, có 47 triệu người Mỹ sống trong cảnh nghèo đói, 48 triệu công dân không có bảo hiểm. Tiền lương của nữ giới thấp hơn nam giới, phụ nữ gốc Phi bị phân biệt đối xử. Phụ nữ, nữ quân nhân trong quân đội, trẻ em là nận nhân của tình trạng bạo lực và lạm dụng tình dục. Nạn phân biệt chủng tộc diễn ra thường xuyên.
          Ngoài nước, Mỹ phát động và tham gia các cuộc chiến tranh gây thương vong cho hàng ngàn dân thường ở nhiều nước. Mỹ cũng là quốc gia chưa phê chuẩn hoặc tham gia vào một loạt các quy ước cốt lõi của Liên Hiệp quốc về nhân quyền.
          Với thực trạng như vậy, đám “rận chủ” đáng nhẽ phải tấm tắc mà khen ngợi TT Mỹ đã sáng suốt hơn là đòi hỏi ông ấy phải nói ra những điều không muốn, thương thay!.
BT./.

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

DÙ ĐEN, GIÓ ĐỘC!


          87 mùa xuân đã qua kể từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, qua bao gian lao thử thách, đạp lên bao thác ghềnh để đưa dân tộc Việt Nam đi từ đêm đen nô lệ đến tương lai tươi sáng: độc lập, tự do, dân chủ, văn minh, hiện đại…
          Thật tiếc là đâu đó vẫn có những kẻ bán lương tâm cho quỷ dữ với mục đích xuyên tạc lịch sử, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, công cuộc xây dựng CNXH của nhân dân ta, đặc biệt chúng xuyên tạc lãnh tụ, xuyên tạc vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng CSVN. Một trong những giọng điệu đó là bài viết “Cộng Sản VN đang phạm những tội gì” của cây “bút đen” quen thuộc Cánh Dù lộng gió đăng trên Blogger Danlambao ngày 20/10/2017.

          Ở bài viết này, Cánh Dù lộng gió bằng kinh nghiệm bồi bút và kỹ năng xào nấu món “lươn lẹo” đã tự vẽ ra các nội dung, sự kiện sai sự thật một cách lố bịch với mục đích bôi nhọ, nói xấu Đảng CSVN, Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xin kể với bạn đọc và trao đổi với tác giả Cánh Dù lộng gió về những nội dung ông xuyên tạc như sau:
          Thứ nhất, Ông cho rằng: Tội lỗi nổi bật của HCM và đảng CSVN từ hồi mới thành lập cho đến nay, rằng là từ khi CSVN cướp chính quyền hợp pháp của Trần Trọng Kim thì chúng phạm rất nhiều tội trời không dung đất không tha. Xin trả lời ông cái gọi là chính phủ Trần Trọng Kim là chính phủ bù nhìn tay sai của phát xít Nhật, chúng đã làm gì khi quân Nhật gây ra nạn đói năm 1945? – nếu nó là chính phủ hợp pháp như ông nói? Và ai bầu ra nó chứ? Hay chỉ là con rối do Nhật nặn lên? Làm tay sai cho Nhật, vô cảm trước thảm cảnh 2 triệu người dân chết đói thì chính phủ Trần Trọng Kim ấy đã góp “công lao” lớn cùng phát xít Nhật gây ra tội ác mà trời mới không dung, đất mới không tha!
      Thứ hai, Ông nói: Đảng CSVN, Hồ Chí Minh có tội rước Pháp về để có chỗ chống lưng đối phó với quân Phát Xít Nhật sau đó bày ra trận Điện Biên Phủ nướng quân để đuổi Pháp. Xin lỗi ông nhé, ông ngu hay giả ngu không biết sự kiện năm 1858 thực dân Pháp xâm lược và nô dịch Việt Nam sao? Và Pháp đã dâng Đông Dương cho Nhật trong thế chiến thứ 2 thì ai mà không biết chứ. Có ai dở hơi gọi kẻ ngoại bang vào xâm lược nước mình không? Muốn xuyên tạc cái gì đó cũng phải động não một chút chứ, chả lẽ ông bị Down?
       Thứ ba, Ông nói rằng: Tội vi phạm hiệp định ngưng chiến chia đôi lãnh thổ lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới 2 miền Nam Bắc năm 1954. Vấn đề này thì đề nghị ông đọc kỹ lại nội dung Hiệp định Giơnevơ, đồng thời xem lại kẻ nào đã bội ước, xé những nội dung thoả thuận và âm mưu chia cắt lãnh thổ Việt Nam.
     Thứ n: ………………………………………...............
     Ông viết dài lắm và liệt kê nhiều lắm, và ông vẫn giữ được phong độ khi 100% dữ liệu trong bài viết của mình vẫn đảm bảo yếu tố hư cấu, xuyên tạc và tính động cơ được thể hiện một cách thô thiển – kiểu bài viết này cũ lắm rồi, xin lỗi nhé, chúng tôi miễn nhiễm với dù đen, gió độc!

                                                                         NHN