Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyên truyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyên truyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 11, 2017

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRỞ THÀNH MỘT ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Kinh tế t­­ư nhân (KTTN), là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư­­ nhân về t­­ư liệu sản xuất. KTTN tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng xét về quy mô và trình độ phát triển của lực l­­ượng sản xuất như­­: Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, tổ hợp sản xuất, doanh nghiệp t­­ư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Căn cứ vào tính chất sở hữu, KTTN được chia thành hai dạng: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế t­­ư bản tư nhân. Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm phát triển và coi trọng các thành phần kinh tế, trong đó có KTTN, bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.

         Để phát huy hơn nữa vai trò của KTTN, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW “về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”. Nghị quyết là bước tiếp nối và phát triển của Nghị quyết số 14-NQ-TW ngày 18/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa IX về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN. Việc ra đời Nghị quyết thể hiện đánh giá đúng của Đảng đối với vai trò và tầm quan trọng của khu vực KTTN trong phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) đất nước giai đoạn tới, đặc biệt là đối với việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện ba đột phá chiến lược; Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực hội nhập quốc tế.
NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT
Qua 15 năm thực hiện, Nghị quyết số 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN”, đã góp phần quan trọng thúc đẩy KTTN phát triển nhanh và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, đồng thời góp phần hình thành, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Một là, nhận thức về vị trí, vai trò của KTTN đã có những bước tiến quan trọng, ngày càng tích cực hơn. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện. Quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức được thể chế hóa và được pháp luật bảo vệ. Phương thức quản lý của Nhà nước đối với KTTN được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường.
Hai là, KTTN đã phát triển trên nhiều phương diện; hiệu quả, sức cạnh tranh dần được nâng lên; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn KTTN có qui mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Trong những năm qua, vai trò, vị trí của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ngày càng được nhận thức rõ hơn và đánh giá đúng hơn. KTTN ngày càng đóng góp lớn hơn trong huy động các nguồn lực xã hội cho sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội và tăng cường quốc phòng, an ninh. “KTTN liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng 39 - 40% GDP thu hút khoảng 85% lao động trong nền kinh tế”[1]; “tỷ trọng nguồn vốn của các doanh nghiệp tư nhân trong cơ cấu tổng lượng vốn đầu tư xã hội tăng qua các năm: năm 2002 chiếm 25,3%, năm 2010 chiếm 36,1%, năm 2015 chiếm 38,7%”[2].
Ba là, đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đạo đức, văn hóa kinh doanh của doanh nhân dần được nâng lên.
Bốn là, mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng trong khu vực KTTN được cấp ủy đảng quan tâm đổi mới, hoàn thiện; đảng viên được làm kinh tế tư nhân và chủ doanh nghiệp của tư nhân được thí điểm kết nạp vào đảng.
Năm là, hoạt động giám sát, phản biện chính sách, vai trò tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động của của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp được quan tâm đổi mới, nâng cao hiệu quả.
HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN
Bên cạnh sự phát triển nhanh và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, KTTN còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém.
Một là, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách khuyến khích KTTN phát triển còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ.
Các quy định pháp luật và các cơ chế, chính sách về tài chính, tín dụng, thuế, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, về lao động, tiền lương, giáo dục đào tạo, về dịch vụ công, về khoa học và công nghệ, về thương mại và hội nhập quốc tế, …để khuyến khích KTTN phát triển còn chưa đồng bộ, bất cập, thiếu linh hoạt và chưa được thực hiện nghiêm. Môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao, thiếu sự an toàn và tính minh bạch. Kinh tế vĩ mô chưa ổn định vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định. Nguy cơ lạm phát, tỷ giá, lãi suất cao trở lại, thiếu ổn định còn lớn. Bội chi ngân sách nhà nước và nợ công cao; đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro an toàn hệ thống tài chính còn cao. Trật tự và kỷ luật thị trường còn nhiều yếu kém; vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh diễn ra khá phổ biến trên thị trường. Sự minh bạch, công khai trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý của Nhà nước còn nhiều hạn chế.
Hai là, KTTN chưa đáp ứng được vai trò là một động lực.
Tốc độ tăng trưởng GDP của KTTN có xu hướng giảm trong những năm gần đây. “Giai đoạn 2003-2010: 11,93 %/năm; giai đoạn 2011-2015: 7,54%/năm”[3]. KTTN có quy mô nhỏ, chủ yếu vẫn là kinh tế hộ kinh doanh. Số lượng các hộ gia đình, cá thể chiếm khoảng 95% tổng số chủ thể KTTN”[4].
Trình độ công nghệ, trình độ quản trị, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh thấp. Phần lớn doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu và phụ thuộc vào nhập khẩu “số lao động có kỹ thuật chuyên môn chỉ khoảng 7%; đầu tư cho đổi mới thiết bị, công nghệ chiếm 3% doanh thu”[5]. Quản trị của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh cá thể trong KTTN còn rất yếu, hệ thống kế toán, quản lý tài chính chưa thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật, hoạt động thiếu minh bạch.
KTTN có cơ cấu ngành nghề còn bất hợp lý, thiếu liên kết với nhau và với các thành phần kinh tế khác khoảng 81% cho các hoạt động thương mại và dịch vụ nhỏ, lẻ phục vụ người tiêu dùng; phần còn lại khoảng 19% hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Khả năng tham gia chuỗi giá trị sản xuất trong nước, khu vực và toàn cầu thấp. Tỷ lệ doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động cao, “bình quân giai đoạn 2007-2015 là 45% tổng số doanh nghiệp còn hoạt động trong nền kinh tế. Năm 2016 có 73.130 doanh nghiệp chấm dứt hoạt động và 20.345 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, trong khi số doanh nghiệp thành lập mới là 110.100 doanh nghiệp”[6].
Ba là, vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong KTTN còn khá phổ biến. Nhiều doanh nghiệp có số vốn ít nhưng đăng ký nhiều ngành nghề kinh doanh, không xác định rõ mục tiêu sản xuất kinh doanh, xây dựng dự án đầu tư thiếu tính khả thi. Một số doanh nghiệp của tư nhân được lập ra để tiến hành các hoạt động bất hợp pháp như mua bán hóa đơn khống, buôn lậu,... Tình trạng gian lận thương mại, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu xảy ra phổ biến.
Bốn là, nhiều quy định của pháp luật về KTTN chưa được thực hiện nghiêm; nhất là lĩnh vực đầu tư, đất đai, tín dụng, thuế và hải quan. Môi trường đầu tư kinh doanh, khởi nghiệp còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao và thiếu minh bạch. Quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản, tiếp cận các cơ hội kinh doanh, nguồn lực xã hội chưa thực sự bình đẳng giữa KTTN và các thành phần kinh tế khác; chi phí trung gian, không chính thức còn nhiều; vẫn còn biểu hiện của cơ chế xin - cho.
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là: Chưa có sự thống nhất cao về lý luận và nhận thức đối với phát triển KTTN; thể chế về phát triển doanh nghiệp, doanh nhân còn nhiều bất cập. Chưa tạo được bước đột phá trong đổi mới, hoàn thiện thể chế KTTN và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTN đạt hiệu quả chưa cao và còn chưa nghiêm túc. Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại của KTTN thấp.
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
Để phát triển kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết đã xác định 5 nhiệm vụ giải pháp chủ yếu.
Một là, thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng, hành động trong triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển KTTN. Đây là nhiệm vụ giải pháp hàng đầu nhằm tạo sự đồng thuận cao về nhận thức, tư tưởng, hành động trong toàn xã hội, tạo điều kiện cho KTTN phát triển.
Trong đó, cần tập trung nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội về khuyến khích, tạo mọi điều kiện phát triển KTTN, về chức năng của Nhà nước và thị trường trong nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập.
Tổng kết một số mô hình doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay để có cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo. Phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn của KTTN trong phát triển KT-XH phải đi đôi với khắc phục triệt để những mặt trái phát sinh trong quá trình phát triển KTTN.
Phòng, chống có hiệu quả các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương, cơ chế, chính sách đối với KTTN.
Hai là, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển KTTN. Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN” việc tạo lập “môi trường đầu tư, kinh doanh, khởi nghiệp còn nhiều hạn chế”[7]. Vì vậy, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để KTTN phát triển có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong đó, cần triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý, đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và thực hiện ba đột phá chiến lược. Phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, hạn chế sự gia tăng nợ công, lấn át đầu tư của khu vực tư nhân.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư tư nhân và bảo đảm hoạt động của KTTN theo cơ chế thị trường: Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền và nghĩa vụ dân sự của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. Mọi biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển KTTN phải phù hợp với nguyên tắc thị trường và thúc đẩy tính tự chủ, cạnh tranh của KTTN, không biến các cơ chế, chính sách hỗ trợ thành bao cấp, phục vụ “nhóm lợi ích” dưới mọi hình thức.
Mở rộng khả năng tham gia thị trường và thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng. Rà soát, xoá bỏ các cơ chế, chính sách tạo ra bất bình đẳng giữa KTTN và các thành phần kinh tế khác, giữa các chủ thể của KTTN, nhất là trong cạnh tranh và tiếp cận nguồn lực xã hội, các yếu tố sản xuất, cơ hội kinh doanh, tham gia thị trường, mà trọng tâm là đất đai, vốn, nguồn lực của Nhà nước. Tăng cường tính minh bạch đối với độc quyền nhà nước, độc quyền doanh nghiệp và kiểm soát độc quyền kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Xóa bỏ các chính sách hành chính can thiệp trực tiếp vào thị trường và sản xuất kinh doanh, nhất là giá cả hàng hóa, dịch vụ.
Tạo điều kiện cho KTTN tham gia vào quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thông qua góp vốn, mua cổ phần để hình thành các tổ chức sản xuất kinh doanh hỗn hợp, có năng lực tài chính, quy mô hoạt động lớn, công nghệ và quản trị hiện đại, nhất là sớm phát triển các tập đoàn KTTN đa sở hữu có khả năng cạnh tranh ở thị trường trong nước và quốc tế.
Phát triển nhanh hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại nhằm hỗ trợ sản xuất kinh doanh và tạo điều kiện thuận lợi cho KTTN tiếp cận, sử dụng thuận lợi, bình đẳng với chi phí hợp lý, bảo đảm tính công khai, minh bạch.
Khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về đất đai, quản lý tài nguyên và môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho KTTN tiếp cận đất đai, các nguồn tài nguyên một cách minh bạch, bình đẳng theo cơ chế thị trường, phục vụ sản xuất kinh doanh
Ba là, hỗ trợ KTTN đổi mới sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.
Khuyến khích KTTN đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ tiên tiến, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo nhằm nâng cao năng suất lao động.
Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực với hệ thống chính sách, giải pháp đồng bộ. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chú trọng xây dựng, nâng cao văn hóa doanh nghiệp và đạo đức doanh nhân.
Khuyến khích, động viên và lan tỏa tinh thần, ý chí khởi nghiệp, kinh doanh và đổi mới, sáng tạo trong toàn xã hội, nhất là cộng đồng doanh nghiệp; xây dựng thương hiệu và chữ tín trong kinh doanh...
Bốn là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong đó, tập trung xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt, tư tưởng chính trị vững vàng, trách nhiệm cao và liêm chính.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp đối với việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với KTTN nhưng phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo gánh nặng tâm lý đối với người dân và doanh nghiệp. Phòng, chống, xoá bỏ mọi biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ “lợi ích nhóm” trong xây dựng và thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách đối với KTTN.
Nâng cao năng lực tổ chức quản lý nhà nước về KTTN. Đẩy mạnh cải cách hành chính mà trọng tâm là tạo bước đột phá trong cải cách thủ tục hành chính. Đơn giản hoá, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành chính, nhất là về thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, cấp phép, thuế, xuất khẩu, nhập khẩu, giải quyết tranh chấp, tố tụng, xét xử, thi hành án dân sự, kinh tế, phá sản.
Hoàn thiện và công khai, minh bạch hệ thống thông tin KT-XH, cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển, cơ chế, chính sách quản lý để tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận khai thác và sử dụng.
Năm là, đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đối với KTTN
Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng trong khu vực KTTN phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Có giải pháp thực hiện chủ trương phát triển đảng trong khu vực KTTN. Coi trọng công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương của Đảng về phát triển KTTN; bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng trong khu vực KTTN.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong phát triển KTTN. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, làm tốt vai trò tổ chức đại diện, tích cực phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh doanh, đào tạo, kỹ thuật và tư vấn cho các hội viên./.
                                                                                                              - NVK -

[1]
 Đảng Cộng sản Việt nam (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 89.
[2] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 36.
[3] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 57.
[4] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 57.
[5] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 60.
[6] Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 65.

[7] Đảng Cộng sản Việt nam (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 92.

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Trận "Điện Biên Phủ trên không" – Bản hùng ca của dân tộc

Năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.
Đúng như lời tiên đoán của Bác, tháng 12 năm 1972, với Chiến dịch Linebacker II, đế quốc Mỹ vạch ra kế hoạch đánh phá miền Bắc Việt Nam với mục đích đưa Bắc Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá” bắt buộc ta phải ký kết Hiệp định Pa-ri theo những điều khoản do Mỹ định ra. Chiến dịch diễn ra từ ngày 18 tháng 12 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972. Trong chiến dịch này, Tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng bằng máy bay chiến lược B52. Nhưng chiến dịch ấy đã hoàn toàn thất bại!

Thượng tướng Anatoli Khiupenen, nguyên Trưởng Đoàn cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam, nhận định: “Điện Biên Phủ trên không của Việt Nam cũng giống như trận Stalingrad của Liên Xô”. Thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Linebacker II trong 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972 đã làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” của dân tộc Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về mọi mặt trong suốt 8 năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Chiến thắng cuộc tập kích bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng của quân và dân ta là đòn giáng trả chí mạng vào sức mạnh không lực Mỹ, góp phần buộc Mỹ phải ký kết vào Hiệp định Paris, rút toàn bộ quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam./.

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG SUY THOÁI VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi ra đời đến nay, tùy theo bối cảnh lịch sử và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của từng thời kỳ mà Đảng ta xác định nội dung, vấn đề cần tập trung giải quyết về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng ngang tầm sự nghiệp lãnh đạo cách mạng. Trong công cuộc đổi mới đất nước, từ tổng kết lý luận và thực tiễn, nhất là từ vai trò, ý nghĩa, kết quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong giai đoạn mới, lần đầu tiên, Đảng ta xác định “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”[2] và nhấn mạnh, cần coi trọng xây dựng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên. Coi đó vừa là mục tiêu vừa là khâu then chốt  trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay, “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đàng viên”[3]

Quán triệt quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong công cuộc đổi mới, có thể phác họa chân dung đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, đó là, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp của Đảng, của Tổ quốc và Nhân dân, trung với nước, hiếu với dân, đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước và Nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân, theo nguyên tắc "Dĩ công vị thương". Thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Không tham nhũng, lãng phí. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, cương lĩnh, kỷ luật của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Ra sức học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, năng lực công tác, giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh. Đề cao tự phê bình và phê bình nhằm góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh. Gương mẫu trong mọi việc, gắn bó mật thiết, đoàn kết, thân ái, nêu cao tinh thần thương yêu đồng chí, đồng bào.
Đối chiếu với chuẩn mực đạo đức cách mạng ấy, trong thực tiễn những năm qua, đa số cán bộ, đảng viên kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; phát huy được vai trò tiên phong, năng động, sáng tạo trong công tác, lao động, cuộc sống, tích cực rèn luyện phẩm chất, trau dồi năng lực; đội ngũ có bước trưởng thành, đóng vai trò nòng cốt, góp phần xứng đáng vào thành quả chung của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây đắp lên nhiều kết quả quan trọng của công tác xây dựng đảng, củng cố, tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Song, bên cạnh đó, tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang diễn ra với mức độ nghiêm trọng, có xu hướng lan rộng ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, vụ lợi, vị kỷ trong cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn và đẩy lùi; tệ tham nhũng, hối lộ, bòn rút của công không giảm; lối sống cơ hội, thực dụng ngày càng gia tăng; lời nói không đi đôi với việc làm; quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở; toan tính vụ lợi, ... đang hàng ngày, hàng giờ tác động trực tiếp đến quan hệ đạo đức gia đình và xã hội. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng nhận định, một trong bốn nguy cơ vẫn tồn tại và có phần diễn biến phức tạp hơn, khi một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng…. cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...  tệ chạy chức, quyền, bằng cấp, tội vẫn còn; không trung thực, chạy theo lối sống cơ hội, thực dụng. Tình trạng đó làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, cần phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của Nhân dân đối với Đảng. Đây là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Tăng cường hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên là một trong những nhiệm vụ vừa cơ bản vừa cấp bách trong công tác xây dựng,chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Ngọn nguồn của sự suy thoái về đạo đức, lối sống trước hết là do bản thân cán bộ, đảng viên thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện; lập trường không vững, tư tưởng hoang mang dao động; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước Tổ quốc và Nhân dân. Đồng thời, các tổ chức đảng chưa phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong bồi dưỡng, giáo dục quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; những yếu kém, bất cập trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Bên cạnh đó, mặt trái của quá trình toàn cầu hóa, sự lợi dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để cổ xúy cho lối sống hưởng lạc, thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, tất cả vì đồng tiền…
Để góp phần thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, cần quán triệt, triển khai thực hiện đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, củng cố và phát triển nhận thức, trách nhiệm về đạo đức cách mạng. Đạo đức cách mạng là phẩm chất hàng đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, được hình thành, phát triển thông qua giáo dục, học tập và rèn luyện trong thực tiễn, không bất biến, có tính kế thừa và không ngừng được bổ sung trong điều kiện mới. Do vậy, phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên cần phải được bồi đắp thường xuyên thông qua hoạt động giáo dục, rèn luyện, làm cho họ luôn xứng đáng đứng trong hàng ngũ “là đạo đức, là văn minh” của Đảng ta, luôn tiên phong về lý luận và thực tiễn. Tính thường xuyên phải được thực hiện trong mục tiêu, phương thức giáo dục, rèn luyện, không chỉ dừng lại trong nhà trường đào tạo, trong công tác, trong sinh hoạt đảng mà còn được triển khai đồng bộ, tích hợp khi liên tục giáo dục, bồi dưỡng về lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị của Đảng theo quá trình công tác, cống hiến; kể cả trong sinh hoạt cộng đồng, nơi cư trú. Mặt khác, tính thường xuyên còn phải được thấm nhuần trong phương pháp, hình thức giáo dục, rèn luyện, nhất là trong thuyết phục, nêu gương, giáo dục riêng. Chỉ có tiến hành thường xuyên công tác giáo dục, rèn luyện mới phát hiện, giải quyết được những bất cập, đáp ứng yêu cầu bổ sung, phát triển những phẩm chất đạo đức cách mạng mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong kỷ nguyên công nghệ thông tin, công nghệ hội tụ (4.0) nhất là những chuẩn mực về nhãn quan chính trị - xã hội, thái độ ứng xử, giải quyết mối quan hệ xã hội, quan hệ lợi ích, quan hệ công tác, sinh hoạt khi xã hội đã có bước chuyển mình nhanh chóng trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên cũng cần phải hết sức giữ gìn, phát huy những chuẩn mực mang tính căn cốt, bản chất của đạo đức cách mạng, không thể lấy cái ứng biến thay thế cái bất biến, lấy cái riêng đa dạng, phong phú thay cho cái chung xuyên suốt, phổ biến về phẩm chất, chuẩn mực đạo đức cách mạng.
Hai là, kiến tạo môi trường, điều kiện, cơ chế bảo đảm cho việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên là con người của xã hội, được Đảng phân công nhiệm vụ, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền có thể được nắm giữ những chức vụ, cương vị trong hệ thống chính trị. Vì vậy, cần thấu suốt, đồng bộ hóa quá trình giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên với quá trình xây dựng đạo đức xã hội, trong đó, phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên phải đóng vai trò tiên phong, dẫn dắt, nêu gương, nhưng không quá tách biệt, có khoảng cách lớn với nền tảng đạo đức chung của xã hội. Các tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác, sinh hoạt, nhất là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải thực sự là “Trường học thực tiễn” giáo dục, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện nhất quán trong phương thức quản lý cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện đảng cầm quyền, việc cất nhắc, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ phải dựa trên cơ sở đánh giá, xem xét toàn diện phẩm chất và năng lực, đức và tài, trong đó, hết sức coi trọng nguyên tắc lấy đạo đức của cán bộ, đảng viên là gốc. Kiên quyết phát hiện, loại bỏ những cán bộ, đảng viên dù có tài nhưng suy thoái đạo đức, lối sống, nhất là đạo đức chính trị. Tiếp tục nghiên cứu, phát triển cơ chế, và cụ thể hóa thành quy trình đào tạo, quy hoạch, sử dụng cán bộ theo hướng chặt chẽ về nguyên tắc, dân chủ trong cách làm. Qua đó, tạo môi trường, điều kiện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên soi rọi, xác định mục tiêu, nhiệm vụ phấn đấu, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Điều đó góp phần quan trọng, tạo động lực thực hiện tốt việc kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức, chính sách; xây dựng đảng vững mạnh về tư tưởng, chính trị, tổ chức và đạo đức.
Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện với tự giáo dục, rèn luyện; giữa “xây” và “chống”. Đạo đức có tính xã hội, nhưng chính phẩm chất đạo đức cũng mang tính cá nhân, riêng có. Vì vậy, phải làm cho hai quá trình, giáo dục, rèn luyện và tự giáo dục, rèn luyện đồng hành, thâm nhập, gắn bó chặt chẽ với nhau, chú trọng yêu cầu và đề cao vai trò, trách nhiệm tự giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Muốn vậy, cần tập trung tổ chức thực hiện tốt tự phê bình, phê bình, tự soi, tự sửa trong sinh hoạt đảng, trong cuộc sống cộng đồng; thực hiện nói đi đôi với làm, nêu cao ý thức trách nhiệm là người có giác ngộ lý tưởng, giáo dục đạo đức cho quần chúng, theo đó, cán bộ, đảng viên phải tự tu dưỡng, rèn luyện, thực hành đạo đức làm gương cho mọi người noi theo. Song hành với quá trình xây dựng, phát triển đạo đức cách mạng là kiên quyết đấu tranh chống hành vi vi phạm pháp luật và những biểu hiện tiêu cực vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống hoặc có nguyên nhân từ sự kém rèn luyện đạo đức, lối sống. Thường xuyên tiến hành có hiệu quả các biện pháp kiểm tra, thanh tra, phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời, chính xác, không có vùng cấm đối với những biểu hiện sa sút về đạo đức dù ở bất cứ chức trách, cương vị nào của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ trọng trách. Tập trung phòng, chống tham nhũng, lãng phí, cửa quyền, quan liêu. Đồng thời có cơ chế, biện pháp bảo vệ, tôn vinh những cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu về đạo đức, lối sống trong Đảng, trong xã hội.

Bốn là, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm thiết thực, hiệu quả; lồng ghép với thực hiện nhiệm vụ chính trị, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng- an ninh. Bổ sung vào thang giá trị đạo đức, các phẩm chất đạo đức cơ bản của cán bộ, đảng viên các tiêu chí: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có tinh thần dũng cảm đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ. Chú trọng tuyên truyền nêu gương “người tốt, việc tốt”; lấy nhân tố tích cực đẩy lùi tiêu cực; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, vô trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, vi phạm chuẩn mực đạo đức, lối sống… Làm tốt việc giám sát, đánh giá mức độ chuyển biến tiến bộ của tập thể, cá nhân. Kết hợp với xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh, tiết kiệm, cấp trên nêu gương cho cấp dưới, người đứng đầu làm trước và phải thật sự mẫu mực. Tập trung xây dựng và triển khai thực hiện nghiêm túc tiêu chí học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cam kết không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo chức năng, chức trách, nhiệm vụ của các nhóm công tác, cá nhân cán bộ, đảng viên. Bên cạch đó, công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng phải được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, đạt hiệu quả thiết thực. Đi sâu vào tư tưởng chính trị, phẩm chất năng lực công tác, đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao... Cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, tổ chức trong tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là vai trò của cơ quan, ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp, tổ chức đảng, quần chúng đối với cán bộ, đảng viên; gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng. Kiên quyết xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách đảng viên, những tổ chức đảng yếu kém trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, sa sút về phẩm chất đạo đức, lối sống.

THỰC CHẤT “CHIẾN DỊCH KÊU GỌI TRẢ TỰ DO CHO 166 TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM”

Gần đây, trên một số trang mạng xã hội đang tích cực lan truyền cái gọi là “Chiến dịch kêu gọi chính phủ Việt Nam phải ngay lập tức và vô điều kiện trả tự do 166 tù nhân lương tâm Việt Nam” do “Liên hiệp các tổ chức nhân quyền NOW” phát động.
Vậy “166 tù nhân lương tâm Việt Nam” là ai? có một điểm chung, họ chính là những công dân Việt Nam, nhưng do có sự nhìn nhận, đánh giá chủ quan về các hiện tượng tiêu cực xảy ra trong xã hội, đã nảy sinh tư tưởng bất mãn với chế độ… Thêm vào đó, do bị kích động, lôi kéo, hậu thuẫn của các thế lực thù địch, họ đã sa ngã vào con đường đấu tranh mù quáng; tuyên truyền chống lại Nhà nước Việt Nam, với mưu đồ nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Hãy nghe những lời sám hối của họ sau khi bị bắt giam để hiểu hơn về những“tù nhân lương tâm”:

Lê Công Định: “Tôi đã tham gia tổ chức Đảng dân chủ Việt Nam nhằm mục đích lật đổ chính quyền nhân dân… Tôi nhận thức những việc làm nói trên đã vi phạm Điều 79 Bộ luật Hình sự… Tôi mong các cơ quan pháp luật xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để cho tôi được hưởng sự khoan hồng”.
Nguyễn Tiến Trung đã thừa nhận: “Rất ăn năn, hối hận vì những việc làm vi phạm pháp luật của mình trong thời gian vừa qua. Do nhận thức sai, hành vi của bị cáo giờ đây không chỉ ảnh hưởng đến gia đình, cha mẹ, bạn bè mà còn chống lại Nhà nước và nhân dân Việt Nam…” .
Trần Huỳnh Duy Thức, viết: “Tôi thực sự ân hận về việc làm của mình, tôi xin Nhà nước rộng lượng khoan hồng, miễn giảm hình phạt cho tôi để sớm được về với gia đình…”
Nguyễn Tiến Trung, cũng viết: “Tôi đã thấy được các hành vi của tôi là vi phạm pháp luật nghiêm trọng… nay tôi xin được hưởng sự khoan hồng”.
Ngoài những nội dung trên, theo khai báo và thú nhận của họ, mọi hoạt động chống phá, bôi nhọ chế độ đều được bọn phản động lưu vong ở nước ngoài chi tiền, trả “lương” hàng tháng.
Như vậy, rõ ràng hoạt động chống phá của họ đâu phải vì “tự do ngôn luận”, “dân chủ”, “nhân quyền” cho Việt Nam; và bản thân bọn họ cũng thừa nhận những việc làm đó là hoàn toàn sai trái. Hơn nữa, Luật quốc tế về quyền con người cũng như pháp luật của các quốc gia đều quy định: Quyền của cá nhân có thể bị hạn chế. Việc Nhà nước Việt Nam đưa ra quyền tự do ngôn luận, cùng với những quy định về hạn chế quyền này là hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Vì thế, bất cứ ai vi phạm pháp luật phải bị xử lý theo pháp luật, đó là điều mà quốc gia nào trên thế giới cũng đều thực hiện. Do đó, việc “Liên hiệp các tổ chức nhân quyền NOW” phát động “Chiến dịch kêu gọi chính phủ Việt Nam phải ngay lập tức và vô điều kiện trả tự do 166 tù nhân lương tâm Việt Nam” là một hành động hết sức phi lý, phi pháp, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam./.

Ảo tưởng của rận chủ!

Giới “rận chủ” vốn ảo tưởng với chuyến công du Châu Á của Tổng thống Mỹ Trump giờ đây đang thở dài ngao ngán. Chúng hy vọng rằng ông Trump sễ đến Việt Nam với thông điệp về cái gọi là “nhân quyền” để chúng hỉ hả với nhau mà tuyên truyền, xuyên tạc, lên án vấn đề “nhân quyền” ở Việt Nam. Chúng có biết rằng tại nơi mà chúng tôn thờ là “thiên đường nhân quyền”, tự cho mình chức năng làm “thẩm phán nhân quyền thế giới” đang có những hành động vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.

          Về quyền sống và đảm bảo an ninh. Theo báo cáo của FBI, năm 2012 Mỹ có 1,2 triệu vụ án bạo lực, trong đó 15.000 vụ án giết người, hơn 84.000 vụ hiếp dâm,... Mỗi anwm ở Mỹ có 100.000 người bị trúng đạn, 30.000 thiệt mạng.
          Về quyền dân sự và chính trị. Cả thế giới còn chưa hết bàng hoàng vụ nghe lén điện thoại, internet, đánh cắp thông tin từ người dân cho đến nguyên thủ các quốc gia khác, thậm chí là các quốc gia đồng minh. Đây là sự vi phạm quyền dân sự nghiêm trọng của con người và độc lập, chủ quyền các quốc gia khác. 80.000 tù nhân bị giam cầm chật chội, thiếu ánh sáng và không khí. Năm 2012, có 47 triệu người Mỹ sống trong cảnh nghèo đói, 48 triệu công dân không có bảo hiểm. Tiền lương của nữ giới thấp hơn nam giới, phụ nữ gốc Phi bị phân biệt đối xử. Phụ nữ, nữ quân nhân trong quân đội, trẻ em là nận nhân của tình trạng bạo lực và lạm dụng tình dục. Nạn phân biệt chủng tộc diễn ra thường xuyên.
          Ngoài nước, Mỹ phát động và tham gia các cuộc chiến tranh gây thương vong cho hàng ngàn dân thường ở nhiều nước. Mỹ cũng là quốc gia chưa phê chuẩn hoặc tham gia vào một loạt các quy ước cốt lõi của Liên Hiệp quốc về nhân quyền.
          Với thực trạng như vậy, đám “rận chủ” đáng nhẽ phải tấm tắc mà khen ngợi TT Mỹ đã sáng suốt hơn là đòi hỏi ông ấy phải nói ra những điều không muốn, thương thay!.
BT./.

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

DÙ ĐEN, GIÓ ĐỘC!


          87 mùa xuân đã qua kể từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, qua bao gian lao thử thách, đạp lên bao thác ghềnh để đưa dân tộc Việt Nam đi từ đêm đen nô lệ đến tương lai tươi sáng: độc lập, tự do, dân chủ, văn minh, hiện đại…
          Thật tiếc là đâu đó vẫn có những kẻ bán lương tâm cho quỷ dữ với mục đích xuyên tạc lịch sử, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, công cuộc xây dựng CNXH của nhân dân ta, đặc biệt chúng xuyên tạc lãnh tụ, xuyên tạc vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng CSVN. Một trong những giọng điệu đó là bài viết “Cộng Sản VN đang phạm những tội gì” của cây “bút đen” quen thuộc Cánh Dù lộng gió đăng trên Blogger Danlambao ngày 20/10/2017.

          Ở bài viết này, Cánh Dù lộng gió bằng kinh nghiệm bồi bút và kỹ năng xào nấu món “lươn lẹo” đã tự vẽ ra các nội dung, sự kiện sai sự thật một cách lố bịch với mục đích bôi nhọ, nói xấu Đảng CSVN, Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xin kể với bạn đọc và trao đổi với tác giả Cánh Dù lộng gió về những nội dung ông xuyên tạc như sau:
          Thứ nhất, Ông cho rằng: Tội lỗi nổi bật của HCM và đảng CSVN từ hồi mới thành lập cho đến nay, rằng là từ khi CSVN cướp chính quyền hợp pháp của Trần Trọng Kim thì chúng phạm rất nhiều tội trời không dung đất không tha. Xin trả lời ông cái gọi là chính phủ Trần Trọng Kim là chính phủ bù nhìn tay sai của phát xít Nhật, chúng đã làm gì khi quân Nhật gây ra nạn đói năm 1945? – nếu nó là chính phủ hợp pháp như ông nói? Và ai bầu ra nó chứ? Hay chỉ là con rối do Nhật nặn lên? Làm tay sai cho Nhật, vô cảm trước thảm cảnh 2 triệu người dân chết đói thì chính phủ Trần Trọng Kim ấy đã góp “công lao” lớn cùng phát xít Nhật gây ra tội ác mà trời mới không dung, đất mới không tha!
      Thứ hai, Ông nói: Đảng CSVN, Hồ Chí Minh có tội rước Pháp về để có chỗ chống lưng đối phó với quân Phát Xít Nhật sau đó bày ra trận Điện Biên Phủ nướng quân để đuổi Pháp. Xin lỗi ông nhé, ông ngu hay giả ngu không biết sự kiện năm 1858 thực dân Pháp xâm lược và nô dịch Việt Nam sao? Và Pháp đã dâng Đông Dương cho Nhật trong thế chiến thứ 2 thì ai mà không biết chứ. Có ai dở hơi gọi kẻ ngoại bang vào xâm lược nước mình không? Muốn xuyên tạc cái gì đó cũng phải động não một chút chứ, chả lẽ ông bị Down?
       Thứ ba, Ông nói rằng: Tội vi phạm hiệp định ngưng chiến chia đôi lãnh thổ lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới 2 miền Nam Bắc năm 1954. Vấn đề này thì đề nghị ông đọc kỹ lại nội dung Hiệp định Giơnevơ, đồng thời xem lại kẻ nào đã bội ước, xé những nội dung thoả thuận và âm mưu chia cắt lãnh thổ Việt Nam.
     Thứ n: ………………………………………...............
     Ông viết dài lắm và liệt kê nhiều lắm, và ông vẫn giữ được phong độ khi 100% dữ liệu trong bài viết của mình vẫn đảm bảo yếu tố hư cấu, xuyên tạc và tính động cơ được thể hiện một cách thô thiển – kiểu bài viết này cũ lắm rồi, xin lỗi nhé, chúng tôi miễn nhiễm với dù đen, gió độc!

                                                                         NHN

SUY NGHĨ VỀ HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 6 KHÓA XII TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác cán bộ, theo Người: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”. Vì vậy, tiêu chí của cán bộ là “trung thành” và “hăng hái trong công việc, trong đấu tranh”, “liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng...; có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn... luôn giữ đúng kỷ luật”.

Để có một bộ máy hành chính tốt phải bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ thường xuyên, để họ phát huy năng lực và tinh thần sáng tạo trong những công việc cụ thể, nâng cao trình độ, sửa chữa những khuyết điểm, phát huy ưu điểm trong quá trình công tác. Khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục, cải tạo, giúp họ sửa chữa.
Đồng thời, kiên quyết đấu tranh làm trong sạch bộ máy, loại bỏ những cán bộ không còn đủ phẩm chất. Tháng 11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời trước kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I về những thành viên của Chính phủ không trong sạch: “Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị.
Quán triệt tư tưởng của Người và thực tiễn công tác cán bộ hiện nay, Bộ chính trị đã thể hiện sự kiên quyết trong xử lý cán bộ vi phạm. Sáng 11/10, sau 7 ngày làm việc liên tục, Hội nghị Trung ương 6 khóa XII đã họp phiên bế mạc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc. Trong diễn văn bế mạc, về công tác cán bộ có đoạn: “Từng đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và mọi cán bộ, đảng viên, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, thường xuyên tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng, tránh đi vào vết xe đổ, để tay nhúng chàm (và nếu đã trót ít nhiều nhúng chàm rồi thì sớm tự giác gột rửa). Từ nay trở đi, bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để lấy lại và củng cố lòng tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân”.

Có thể nói, trong sự quyết tâm của cả hệ hệ thống chính trị về công tác cán bộ trong thời gian qua, hiện tại và tương lai, quan điểm của Hội nghị đã thể hiện sự nghiêm khắc nhưng rất nhân văn, thấu lý đạt tình, tâm phục khẩu phục, có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, phòng ngừa sâu sắc, vừa thể hiện truyền thống văn hóa dân tộc nhưng cũng thể hiện bản chất cách mạng của Đảng ta./.

Thứ Tư, 18 tháng 10, 2017

NHỮNG ĐIỂM NHẤN QUAN TRỌNG CỦA HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 6 (KHÓA XII)

Trong các ngày từ 4 – 11/10/2017, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã mở Hội nghị lần thứ 6. Sau mỗi sự kiện lớn của đất nước, của Đảng, ví như Hội nghị Trung ương 6 vừa rồi, nhiều tổ chức Đảng, nhiều cán bộ, đảng viên và người dân đều có chung nguyện vọng: Được biết đầy đủ nhưng ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ  những nội dung chính, quan trọng mà Trung ương đã thảo luận, quyết nghị; những công việc cần làm để thực hiện thắng lợi các nghị quyết, kết luận của Trung ương. 

Vấn đề quan trọng đầu tiên là tình hình kinh tế - xã hội năm 2017, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của năm 2018. Trong 9 tháng đã qua của năm 2017, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực. Kinh tế tăng trưởng khá, quý sau cao hơn quý trước; quý III tăng 7,46%, nâng mức tăng trưởng bình quân 3 quý lên 6,41%. Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát. Các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; kỷ luật, kỷ cương về tài chính - ngân sách nhà nước được tăng cường.
Thị trường tiền tệ ổn định; thị trường chứng khoán có nhiều khởi sắc; xuất khẩu đạt 154 tỉ USD. Cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh chuyển biến rõ rệt; sản xuất công nghiệp lấy lại đà tăng trưởng, sản xuất nông nghiệp phục hồi, có mức tăng trưởng khá. Văn hoá - xã hội có nhiều khởi sắc. Dự báo, đến cuối năm 2017, có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức toàn bộ 13 chỉ tiêu kế hoạch đề ra.  Tuy nhiên, nhiều khó khăn, thách thức đang ở phía trước. Thâm hụt ngân sách và nợ công vẫn ở mức cao. Nợ xấu ngân hàng còn lớn; xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém và nợ xấu chưa căn bản và triệt để. Phân bổ và giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, nhất là vốn trái phiếu chính phủ, vốn ODA còn chậm.
Nhiều dự án, doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, thất thoát. Nhiều vấn đề xã hội còn yếu kém, bất cập. Năm 2018, chúng ta cần tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thực hiện ba đột phá chiến lược, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh, bảo đảm an sinh xã hội. Đặc biệt, cần có chiến lược ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn giao thông, an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh cải cách hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, phát triển.
Cần đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện thể chế; tăng cường kỷ cương, kỷ luật; cải cách hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; tiếp tục cơ cấu lại thu - chi ngân sách nhà nước, kiểm soát bội chi và giữ mức nợ công trong ngưỡng cho phép. Xử lý căn bản, triệt để, hiệu quả các công trình, dự án, doanh nghiệp nhà nước thua lỗ kéo dài, các ngân hàng thương mại yếu kém, nợ xấu ngân hàng và nợ đọng xây dựng cơ bản. Phát triển kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực rất quan trọng của nền kinh tế.
Vấn đề quan trọng thứ hai Nghị quyết “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Trong thời gian tới, toàn hệ thống chính trị phải chủ động, tích cực, gương mẫu và vào cuộc quyết liệt, coi đó là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng, cấp bách, được đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trước yêu cầu mới.
Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị; phát huy đầy đủ, đúng đắn vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân. Chú ý bảo đảm tính đổi mới, tổng thể, hệ thống, đồng bộ, liên thông; kết hợp hài hoà giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển; đổi mới tích cực, mạnh mẽ, nhưng không nôn nóng đi từ cực này sang cực khác, không bi quan khi đương đầu với nhiều khó khăn, phức tạp; gắn đổi mới bộ máy tổ chức với đổi mới phương thức lãnh đạo, với tinh giản biên chế và cải cách tiền lương; xử lý hài hoà mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội.
Khẩn trương nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị ở nước ta phù hợp với yêu cầu, điều kiện cụ thể trong giai đoạn mới; trên cơ sở đó xác định những công việc cần thiết và có thể triển khai thực hiện ngay. Rà soát, quy định chặt chẽ hơn về biên chế, số lượng cán bộ, công chức, viên chức; chú ý quy định số lượng cấp phó tối đa của mỗi tổ chức phù hợp với đặc điểm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương.
Xây dựng cơ chế cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, đúng đắn trong tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ để thu hút người thực sự có đức, có tài vào làm việc trong các tổ chức của hệ thống chính trị. Rà soát, sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn đầu mối bên trong của các tổ chức này theo nguyên tắc một tổ chức có thể đảm nhiệm nhiều việc; một việc chỉ do một tổ chức chủ trì và chịu trách nhiệm chính, gắn với việc tái cơ cấu, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm tỉ lệ người phục vụ, nhất là khối hành chính.
Tăng cường phân cấp, phân quyền hợp lý giữa cấp trên với cấp dưới, giữa Trung ương và địa phương. Xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực bằng các quy định của pháp luật, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả; thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc, đề cao trách nhiệm giải trình, xử lý; xây dựng chế tài đủ mạnh; xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu vi phạm, sai phạm.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng rộng rãi khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin phục vụ lãnh đạo, điều hành; tinh giản tổ chức bộ máy, biên chế. Thực hiện giao và quản lý chặt chẽ biên chế trên cơ sở phân loại tổ chức, xác định rõ vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức, viên chức. Tiến hành tổng kết việc thi tuyển, bổ nhiệm, sử dụng, đánh giá và thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp.
Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra của Đảng với thanh tra của Nhà nước, sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quan dân cử. Tập trung ưu tiên triển khai ngay những việc đã rõ, đã chín, có cả cơ sở lý luận và thực tiễn. Ví dụ, việc kết thúc hoạt động của các Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; tổ chức, sáp nhập Đảng bộ Ngoài nước và Đảng bộ Bộ Ngoại giao. Đẩy mạnh xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài nhà nước. Cơ bản thực hiện mô hình Bí thư cấp uỷ đồng thời là Chủ tịch Hội đồng nhân dân; thực hiện Bí thư cấp uỷ đồng thời là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã những nơi có đủ điều kiện.
Tăng cường phân cấp, phân quyền hợp lý đi đôi với xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực và chế độ kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ rà soát, chuyển giao một số nhiệm vụ và dịch vụ công cho doanh nghiệp, người dân đảm nhiệm. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về chính quyền địa phương theo hướng phân định rõ hơn tổ chức chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
Vấn đề quan trọng thứ ba, Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả các đơn vị sự nghiệp công lập”. Cùng với việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, công việc này có tầm quan trọng không kém, được ưu tiên chỉ đạo thực hiện trong thời gian tới. Nhà nước phải chăm lo bảo đảm cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu; nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ sự nghiệp công cho mọi tầng lớp nhân dân trên cơ sở tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước; giữ vững, phát huy tốt hơn nữa vai trò chủ đạo, vị trí then chốt, bản chất tốt đẹp của các đơn vị sự nghiệp công lập.
Đẩy mạnh xã hội hoá, nhất là trong các ngành, lĩnh vực mà khu vực ngoài công lập làm được và làm tốt; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển lành mạnh thị trường dịch vụ sự nghiệp công; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập. Trong quá trình đổi mới, sắp xếp, phải bám sát đặc điểm tình hình của từng ngành, lĩnh vực, địa bàn, đẩy mạnh xã hội hoá, nhưng không thương mại hoá lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công. Đẩy mạnh việc chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khoa học - công nghệ có đủ điều kiện thành doanh nghiệp, bao gồm cả hình thức công ty cổ phần.
Đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Chú ý rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với từng loại hình dịch vụ sự nghiệp công và từng loại hình đơn vị sự nghiệp công lập. Đổi mới, tăng cường chế độ kế toán, hạch toán, kiểm toán, kiểm tra, thanh tra, giám sát đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, về cơ bản tương tự như đối với doanh nghiệp nhà nước.
Phân định rõ hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, hoạt động sự nghiệp do Nhà nước giao với hoạt động cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của xã hội. Ngân sách nhà nước bảo đảm đầu tư cho các dịch vụ công cơ bản, thiết yếu và các đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người. Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật về công chức, viên chức; rà soát, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tinh giản biên chế; đẩy mạnh việc phân cấp, giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng phân định rõ việc quản lý nhà nước với quản trị đơn vị sự nghiệp công lập và việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.
Giảm mạnh sự can thiệp hành chính của cơ quan chủ quản vào hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của đơn vị sự nghiệp công lập. Tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành với nhau và với cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, tài chính các cấp trong quản lý ngân sách nhà nước chi cho lĩnh vực sự nghiệp.
Quy định rõ quyền hạn gắn với trách nhiệm người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, đặc biệt là người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập. Kiên quyết xử lý nghiêm các vi phạm, sai phạm.
Vấn đề quan trọng thứ tư, Nghị quyết về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới”. Việc bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ là trách nhiệm của mỗi người dân, từng gia đình, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; đòi hỏi sự tham gia tích cực, chủ động của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó ngành Y tế là lực lượng nòng cốt hàng đầu.
Nhà nước cần phát huy vai trò chủ đạo của các bệnh viện và cơ sở y tế công lập trong việc tổ chức cung cấp dịch vụ y tế, bảo đảm các dịch vụ cơ bản cho đông đảo nhân dân, đồng thời khuyến khích cung cấp dịch vụ theo yêu cầu. Tập trung ưu tiên đầu tư từ ngân sách và có cơ chế, chính sách phù hợp huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực xã hội để phát triển y tế và các dịch vụ liên quan đến bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ nhân dân.
Không ngừng phấn đấu nâng cao sức khoẻ, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam; bảo đảm mọi người dân đều được bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ; bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc tham gia và hưởng thụ bảo hiểm y tế và các dịch vụ có liên quan.
Phát triển nền y học Việt Nam khoa học, dân tộc, đại chúng; xây dựng nền y tế công bằng, nhân văn, hiệu quả, chất lượng và hội nhập. Phát triển cân đối, đồng bộ giữa y tế phổ cập và y tế chuyên sâu, giữa dân y và quân y, gắn kết y học cổ truyền với y học hiện đại. Thực hiện phòng bệnh hơn chữa bệnh; y tế dự phòng là then chốt; y tế cơ sở thực sự là nền tảng. Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ sở y tế hiện có của Nhà nước, bao gồm cả dân, quân y, gắn với khuyến khích hợp tác công - tư, phát triển lành mạnh y tế ngoài công lập; xây dựng hệ thống y tế rộng khắp, gần dân, tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cần chủ động, tích cực, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo phong trào toàn dân tham gia rèn luyện thân thể; cải thiện điều kiện sống, lối sống và làm việc; bảo vệ môi trường sinh thái và vệ sinh an toàn thực phẩm; thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao, sinh hoạt điều độ, lành mạnh. Tăng cường y tế dự phòng, nâng cao sức khoẻ gắn với đổi mới, phát huy vai trò của hệ thống y tế cơ sở, góp phần khắc phục tình trạng quá tải các bệnh viện, nhất là tuyến trên.
Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; nâng cao y đức; phát triển ngành dược và thiết bị y tế, bảo đảm đủ thuốc tốt và thiết bị bảo đảm chất lượng. Chăm lo phát triển nguồn nhân lực và khoa học ngành Y. Nâng cao năng lực nghiên cứu, triển khai ứng dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ, kỹ thuật y tế, dược, sinh học. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách tài chính y tế, đặc biệt là sớm thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; đổi mới phương thức chi ngân sách nhà nước cho y tế; đổi mới cơ chế về giá, phí dịch vụ phù hợp, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, khắc phục tình trạng thương mại hoá dịch vụ khám, chữa bệnh. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về y tế gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Vấn đề quan trọng thứ 5, Nghị quyết về “Công tác dân số trong tình hình mới”. Những năm qua, nước ta có nhiều nỗ lực và thành tựu trong công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình. Chúng ta đã khống chế thành công tốc độ gia tăng dân số, sớm đạt và duy trì được mức sinh thay thế. Cơ cấu dân số, cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực. Nước ta bắt đầu bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007 và dự kiến đạt đỉnh cao vào khoảng năm 2020 - 2030 với số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 70% dân số.
Chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tầm vóc, thể lực của người Việt Nam từng bước được cải thiện. Tuổi thọ trung bình tăng đáng kể (từ 65,3 tuổi lên 73,4 tuổi). Dịch vụ dân số - kế hoạch hoá gia đình được mở rộng, chất lượng ngày càng cao. Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hoá, đô thị hoá, công nghiệp hoá dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và biến đổi khí hậu, thay đổi về điều kiện, lối sống, môi trường sống, làm việc và môi trường sinh thái đã và đang dẫn đến những thay đổi nhanh chóng về mô hình gia đình, kết hôn, ý thức và khả năng sinh sản, tăng nhanh quá trình di cư...
Chính sách hạn chế mức sinh của ta kéo dài, rộng khắp cả nước bắt đầu bộc lộ những hệ luỵ cần sớm được khắc phục. Cần có sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy, cách làm để giải quyết toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả các vấn đề về dân số. Phấn đấu duy trì ổn định vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỉ lệ giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; duy trì và tận dụng có hiệu quả lợi thế cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số, nâng cao chất lượng dân số, phân bố dân số phù hợp với quá trình phát triển.
Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang dân số và phát triển; chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Coi công tác dân số và phát triển là nhiệm vụ của toàn dân; đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển bền vững; Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá; tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của quốc tế, bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số.
Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con, bảo đảm quyền và trách nhiệm trong việc sinh và nuôi dạy con tốt để duy trì mức sinh thay thế trên phạm vi cả nước với quy mô dân số hợp lý (khoảng 104 triệu người vào năm 2030). Tập trung ưu tiên vận động sinh ít con hơn ở vùng có mức sinh cao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp. Ngăn ngừa tư tưởng, tâm lý không hạn chế số lần sinh con đang nổi lên những năm gần đây. Đổi mới nội dung tuyên truyền vận động về công tác dân số và phát triển. Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách; phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ về dân số. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ dân số, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
Vấn đề quan trọng thứ 6, đó là công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ. Ban Chấp hành Trung ương tiếp tục chỉ đạo, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Việc Ban Chấp hành Trung ương bầu đồng chí Phan Đình Trạc, Uỷ viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Uỷ viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào Ban Bí thư cũng nằm trong định hướng quan trọng đó.
Ban Chấp hành Trung ương xem xét thi hành kỷ luật đối với đồng chí Nguyễn Xuân Anh bằng hình thức cách chức Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng, cách chức Uỷ viên Ban Thường vụ, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015 - 2020 và cho thôi giữ chức Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII cũng là để làm cho Đảng trong sạch hơn, mạnh hơn.
Về vấn đề này, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6: “Đây là bài học đau xót cần nghiêm túc rút kinh nghiệm không chỉ đối với đồng chí Nguyễn Xuân Anh mà là bài học chung đối với tất cả chúng ta. Đề nghị từng đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và mọi cán bộ, đảng viên, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, thường xuyên tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng, tránh đi vào vết xe đổ, để tay nhúng chàm (và nếu đã trót ít nhiều nhúng chàm rồi thì sớm tự giác gột rửa). Từ nay trở đi, bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để lấy lại và củng cố lòng tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân”.
Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XII) đã thành công tốt đẹp. Tới đây, các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên và mọi người dân sẽ được nghe thông báo nhanh về Hội nghị; được học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết, kết luận của Hội nghị. Để quan điểm, nghị quyết của Đảng sớm đi vào cuộc sống, cần thể chế hóa, hiện thực hóa bằng các chính sách, cơ chế, nguồn lực của Nhà nước; sự vào cuộc quyết liệt, chủ động, gương mẫu của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; ra sức đoàn kết, phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tất cả vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.